Xu Hướng 2/2023 # Giới Thiệu Về Clubbing Dance # Top 8 View | Globaltraining.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Giới Thiệu Về Clubbing Dance # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Giới Thiệu Về Clubbing Dance được cập nhật mới nhất trên website Globaltraining.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Giới Thiệu Về Clubbing Dance

Cùng với sự phát triển của nhạc Dance trên toàn thế giới đặc biệt là EDM, các bar club tại các thành phố lớn trong và ngoài nước ngày càng thu hút được sự quan tâm của nhiều thành phần và độ tuổi yêu thích thế loại âm nhạc cuồng nhiệt này. Vì thế, nhu cầu để được hòa mình vào trong các điệu nhạc quyến rũ sôi động, xua tan đi những mệt nhọc của những ngày làm việc vất vả mỗi ngày một lớn. Xuất phát từ điều này, bộ môn clubbing đã được ra đời tại Saigon Dance nhằm phục vụ mọi độ tuổi muốn trở nên sành điệu và hết mình một không ngại ngần ở những tụ điểm Bar Club trên toàn thành phố.

Nếu như Belly dance hay Bollywood cần một nền tảng căn bản đặc trưng của môn nhảy trước khi “nhập cuộc”, thì Clubbing dance lại mang màu sắc tươi trẻ và phóng khoáng tự do hơn nhiều. Cái học viên cần chỉ là tập trung vào nhịp độ của bài nhạc, thả lỏng để giải thoát năng lượng vốn có của cơ thể để nhảy một cách hết sức bản năng và tự do như cách mà SaigonDance tin rằng ai cũng có thể nhảy cả, bất kì ai.

Rõ ràng, lợi ích lớn nhất từ bộ môn này mang lại đó là sự tự tin khi hòa mình vào một đám đông để không bao giờ cảm thấy lạc lõng khi bất ngờ một vài người bạn nài nỉ lôi kéo bạn chung vui với họ ở một quán Bar nào đấy. Không xấu hổ cũng không vụng về, mọi ánh mắt nhìn vào bạn đều ánh lên sự thán phục ngấm ngầm. Ngoài ra, vận động cơ thể trong suốt một tiếng đồng hồ học tập làm nỗi lo lắng thường nhật tan biến đi như số lượng calo bạn đã đốt cháy.

Đơn giản, vui, và hiệu quả, không cần trang phục quá cầu kì khi học tập, bạn có thể mặc bất kì trang phục nào bạn thích, miễn bạn là chính bạn, SaigonDance luôn trong tư thế sẵn sàng và hết mình trong quá trình đưa bạn trở nên đẹp hơn trong mắt người khác qua bộ môn Clubbing này.

Lịch Học Clubbing Dance

Liên Hệ Tư Vấn Và Đăng Ký Lớp Học Clubbing Dance

Website: https://www.saigondance.vn/

Fanpage: https://www.facebook.com/saigondancevn/

Email: Saigonbellydance@gmail.com

Địa Chỉ:

+ 94-96 Đường số 2 Cư xá Đô thành, Phường 4, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh

HotLine: (8428) 38 329 429 – 0902 322 361

+ 85 Phạm Huy Thông, F17, Quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh

HotLine: (8428) 3636.5202 – 0902 992 361

Đăng ký lớp học

Bài viết mới nhất

Giới Thiệu Về Các Thủ Thuật Dùng Phím Tắt Siêu Lợi Hại

Nhiều lúc bạn phải tạm thời rời chiếc Máy tính của mình để giải quyết một vài việc khác, trong lúc này nếu máy tính của bạn có chứa những nội dung thông tin cần được bảo mật, bạn chỉ cần sử dụng tổ hợp phím Windows + L, lúc này màn hình máy tính sẽ lập tức bị khóa, bạn sẽ không lo dữ liệu bị người khác xem trộm nữa.

Để cùng một lúc điều chỉnh độ sáng tối màn hình, âm lượng, mở wifi, lại còn có thể xem được dung lượng pin Laptop, kết nối Laptop với Tivi? vậy hãy nhấn Windows + X, yêu cầu của bạn có thể được đáp ứng.

Nếu bàn phím vật lý của AC có vấn đề, trong lúc chờ trang bị bộ bàn phím mới hoặc khắc phục, có thể nhấn ngay Windows + R, nhập “osk”, bàn phím ảo ngay lập tức xuất hiện với tính năng tương tự như bàn phím thật.

Để phóng to hình ảnh và chữ khi mắt kèm nhèm?? Hãy thử giữ phím Windows và “+” hoặc “-“ tùy chỉnh của bạn để hợp lý nhất có thể.

Khi không muốn sử dụng chuột mà vẫn mở được Properties, các cao thủ làm thế nào? Hãy sử dụng tổ hợp phím: Windows + Fn + Home.

Ctrl+S: Lưu trữ

Ctrl+W: Đóng cửa sổ

Ctrl+N: Mở thư mục mới

Ctrl+O: Mở thư mục cũ

Ctrl+Z: Thao tác lại

Ctrl+F: Tìm kiếm

Ctrl+X: Cắt

Ctrl+C: Sao chép

Ctrl+V: Dán

Ctrl+A: Chọn toàn bộ

Ctrl+[: Thu nhỏ cỡ chữ

Ctrl+]: Phóng to cỡ chữ

Ctrl+B: Bôi đậm chữ

Ctrl+I: In nghiêng chữ

Ctrl+U: Gạch dưới chữ

Ctrl+Shift: Hoán đổi ngôn ngữ nhập liệu

Ctrl+Home: Chuyển về đầu trang

Ctrl+End: Chuyển đến cuối trang

Ctrl+F5: Tải lại website

Ctrl+ dịch chuyển thư mục: Sao chép thư mục

Ctrl+Backspace: Chuyển đổi cách gõ bàn phím

Khi dịch chuyển thư mục giữ phím Ctrl+Shift: tạo shortcut cho thư mục

Alt+Backspace+C: Đóng cửa sổ

Alt+Backspace+N: Thu nhỏ cửa sổ

Alt+ Backspace +R: Khôi phục lại cửa sổ

Alt+ Backspace +X: Mở lớn cửa sổ

Alt+ Backspace +M: Di chuyển cửa sổ

Alt+ Backspace +S: Thay đổi kích thước cửa sổ

Alt+Tab: Hoán đổi cửa sổ làm việc

Alt+F: Mở menu File

Alt+V: Mở menu View

Alt+E: Mở menu Edit

Alt+I: Mở menu Insert

Alt+O: Mở menu Organize

Alt+T: Mở menu Tool

Alt+A: Mở menu Favourites

Alt+W: Mở menu Windows

Alt+H: Mở menu Help

Alt+Enter: Kiểm tra thuộc tính văn bản

Alt+Kích đúp văn bản: Kiểm tra thuộc tính văn bản

Shift+ Backspace: Hoán đổi bán toàn hình

Shift + Delete: Xóa vĩnh viễn mục đã chọn mà không chuyển vào thùng rác.

Các phím tắt sử dụng trong Word

CTRL+O: Mở văn bản

CTRL+P: In ấn

CTRL+A: Chọn toàn bộ

CTRL+D: Chọn font chữ (lựa chọn văn bản trước)

CTRL+G/H: Tìm kiếm/ thay thế

CTRL+N: Mở văn bản mới

CTRL+M : Khoảng cách lề bên trái (lựa chọn văn bản trước)

CTRL+U: Vẽ phác hoạ (lựa chọn văn bản trước)

CTRL+B: Bôi đậm (lựa chọn văn bản trước)

CTRL+I: In nghiêng (lựa chọn văn bản trước)

CTRL+Q: Căn chỉnh hai bên (lựa chọn văn bản trước) hoặc đặt con trỏ vào cuối đoạn và thực hiện thao tác.

CTRL+J: Căn chỉnh ra hai đầu (thao tác như trên)

CTRL+E: Căn chỉnh ra giữa (thao tác như trên)

CTRL+R: Căn chỉnh sang phải (thao tác như trên)

CTRL+K: Chèn Hyperlink

P/s: Kiến thức và khả năng của mỗi người là vô hạn, có thể và còn rất nhiều các tổ hợp phím tắt chức năng khác nữa mà admin chưa tham khảo hết. Với nỗ lục của mình mong rằng sẽ cung cấp thêm được một chút ít thông tin để nhà mình áp dụng. Lúc đầu áp dụng có vẻ phức tạp nhưng sau khi sử dụng một thời gian, AC sẽ thấy được hiệu quả công việc của mình được nâng cao rõ rệt, AC hầu như không còn phụ thuộc vào con chuột nữa. Chúc AC và gia đình Vinacap làm việc hiệu quả.

 

Tổng Hợp Thủ Thuật Access: Giới Thiệu Microsoft Access

Access là gì?

Với

Tại sao bạn nên dùng Access?

Nếu bạn đang cố gắng thiết kế hoặc tạo ra một công cụ hoặc 1 hệ thống hay chúng ta vẫn hay gọi với nhau là một phần mềm dùng để quản lý và làm việc với dữ liệu: nhập dữ liệu và hệ thống, thực hiện các thao tác chỉnh sửa, in báo cáo,

Ngoài ra, nếu bạn là người không chuyên về IT nhưng bạn vẫn muốn tìm hiểu

Để bắt đầu với việc học và làm việc với Access thì kĩ năng quan trọng nhất mà bạn nên có là khả năng tư duy logic và tiếng Anh. Dù rất muốn nhưng bất kì chương trình học nào dù miễn phí hay có phí thì đều không thể giới thiệu hết 100% kiến thức giúp các bạn áp dụng cho mọi trường hợp được, vậy nên với những kiến thức ban đầu được đưa ra, thì tư duy logic và tiếng Anh dành cho tra cứu là 2 yếu tố thiết yếu để bạn có thể tiếp tục tiến xa hơn trên con đường chinh phục không chỉ Access mà bất cứ kiến thức nào. Ngoài ra, bạn cần có 1 khoảng thời gian rảnh nhất định để thực sự có thể ngồi và suy nghĩ, thử lại những kiến thức đã học, bởi vì trong thời gian này, bạn chủ động học, thực hành và suy nghĩ. Sự “học 1 cách chủ động” này sẽ giúp bạn tiếp thu kiến thức nhanh hơn và tốt hơn. Hãy kiên trì! Và tất nhiên, không muốn làm một số bạn buồn: thực sự thì một số người không phù hợp để học nhanh 1 kiến thức nào đó vậy nên chúng ta cần nhiều thời gian và nhiều kiên nhẫn hơn 1 chút là mọi thứ sẽ từ từ trở nên dễ hiểu.

Những mảng kiến thức cần có khi làm việc với Access

Cơ sở dữ liệu – Database

Cơ sở dữ liệu là gì?

Nói 1 cách đơn giản, cơ sở dữ liệu là nơi chứa dữ liệu.

Có những loại cơ sở dữ liệu nào?

Có nhiều loại Loại dữ liệu được lưu trong một cơ sở dữ liệu? (Data types)

Khi nhắc tới loại dữ liệu trong Database, chúng ta thường phần loại theo mục đích sử dụng của loại dữ liệu đó, ví dụ nếu chúng ta muốn lưu trữ họ và tên, thì chúng ta có thể dùng kiểu dữ liệu text, nếu chúng ta muốn lưu trữ tiền tệ, hoặc những con số thì chúng ta cần sử dụng kiểu dữ liệu Number, đối với mỗi dữ liệu mà chúng ta muốn quản lý và lưu trữ trong công việc hàng ngày, sẽ có 1 kiểu dữ liệu tương ứng. Tuỳ thuộc vào đặc tính và mục đích sử dụng của dữ liệu đó mà chúng ta sẽ có kiểu dữ liệu nhất định. Dữ liệu được quản lý như thế nào? (How data is organized? – Relationship)

Chúng ta đang học về

Mỗi quan hệ giữa các

Làm thế nào để đọc được dữ liệu từ cơ sở dữ liệu?

Để đọc được dữ liệu từ

Giao diện người dùng – User Interface (UI) / Graphical User Interface (GUI)

Giao diện người dùng giúp cho chúng ta có thể tương tác với chương trình, phần mềm hay hệ thống 1 cách đơn giản hơn, trong

Form nhập dữ liệu – Input forms

Giúp chúng ta có thể nhập dữ liệu vào Output –

Output trong Ngôn ngữ lập trình

Giới Thiệu Phẫu Thuật Cắt Đầu Tụy Tá Tràng

I. Nội dung của phẫu thuật

Phẫu thuật cắt đầu tụy tá tràng là một phẫu thuật lớn và phức tạp trong chuyên ngành tiêu hóa. Sự phức tạp bởi giải phẫu định khu tại chỗ và kết hợp với sự thâm nhiễm của tổ chức ung thư tới các tạng lân cận nhất là các bó mạch trong đó có bó mạch mạc treo tràng trên. Hơn nữa các miệng nối tụy-ruột, mật- ruột sau mổ có tỷ lệ tai biến và biến chứng cao ( 20-30 % ) và tử vong sau mổ cao ( 5-7 % ). Đặc biệt các bệnh lý ung thư vùng đầu tụy sau phẫu thuật sống sau 5 năm còn thấp ( 10-15 % ) nên khiến cho các phẫu thuật viên e ngại khi thực hiện loại phẫu thuật này.

Nội dung của phẫu thuật là: cắt bỏ khối đầu tụy, túi mật, phần thấp của ống mật chủ, một phần dạ dầy (hang vị ) khung tá tràng và quai hỗng tràng đầu tiên trong một khu giải phẫu rất nhiều mạch máu như phía sau là tĩnh mạch chủ dưới, bó mạch mạch treo tràng trên và hệ tĩnh mạch cửa..

Hình 1: Sơ đồ các vùng cần cắt bỏ trong phẫu thuật cắt đầu tụy- tá tràng

Kết hợp nạo vét hạch cuống gan, trên tụy, mạc treo đại tràng..

Sau đó phục hồi lưu thông với 3 miệng nối: tụy- ruột, mật-ruột và dạ dầy- ruột.

Cắt đầu tụy tá tràng được chỉ định cho các bệnh thường gặp sau:

Ung thư Vater, ung thư phần thấp đường mật, ung thư đầu tụy… nhiều khi không thể xác định được đâu là nguyên nhân nên người ta gọi là các khối u vùng quanh bóng Vater ( Peri Ampullary Tumors )

Các bệnh tụy lành tính như viêm tụy mạn, sỏi đầu tụy

Đặc biệt các chấn thương phức tạp đầu tụy và tá tràng

Các u tá tràng ( GITS )..

II. Sự phát triển của phẫu thuật.

Ngày nay Phẫu thuật cắt đầu tụy-tá tràng đã được phát triển ở mức độ cao, nhất là từ những năm 60-80 của thế kỷ trước.

Kết quả theo các thống kê trong giai đoạn đầu thiên niên kỷ này với tỷ lệ tai biến và biến chứng chỉ còn 5-7 % ( trước đây 20-30% ), Tỷ lệ tử vong 3-5% thậm chí tới 0% ở các trung tâm chuyên khoa. Thời gian sống sau mổ với các bệnh nhân ung thư vùng quanh bóng Vater sau 5 năm quanh quẩn 15-20% là một kết quả rất khả quan với sự phối hợp của phẫu thuật, gây mê hồi sức với các biện pháp điều trị bổ trợ sau phẫu thuật. Với sự phát triển của phẫu thuật nội soi, những năm gần đây phẫu thuật trên đã được thực hiện từng phần qua nội soi.

Để có cái nhìn về sự phát triển của loại phẫu thuật trên chúng tôi xin giới thiệu quá trình phát triển của phẫu thuật qua các giai đoạn. Những cải tiến qua các thời kỳ và các quan điểm y học từng giai đoạn để có hiểu biết hơn về phẫu thuật cắt đầu tụy-tá tràng .

Năm 1935 Whipple và cộng sự đã mô tả kỹ thuật cắt tụy tá tràng trên 3 bệnh nhân bị u Vater. Phẫu thuật có 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu tác giả nối túi mật với dạ dầy và thắt phầp thấp của đường mật lại, nối dạ dầy với hỗng tràng. Giai đoạn tiếp của phẫu thuật tác giả cắt hạn chế cả hai tá tràng và tụy. Diện phúc mạc sau tá tràng và tụy được dẫn lưu ra ngoài không có miệng nối tụy nào được thực hiện.

Phẫu thuật trên của Whiple và cộng sự đã được đăng ở tạp chí y học danh tiếng thời bấy giờ và tên ông đã gắn liền với phẫu thuật cắt đầu tụy-tá tràng. Thực tế là phẫu thuật lúc đó hoàn toàn khác xa với phẫu thuật cắt đầu tụy-tá tràng mà chúng ta tiến hành bây giờ.

Năm 1899 Halsted đã báo cáo trường hợp đầu tiên cắt bóng Vater và khôi phục lại đường dẫn tụy và mật. Năm 1905 Mayo đã thông báo lần đầu nối lại đường mật sau tổn thương do cắt túi mật. Cũng thời gian đó có nhiều thông báo của Codivilla (1898 ) Kausch (1912 ) Hirchel (1914 ) và Tenani (1922) ghi nhận các kinh nghiệm của họ với ý tưởng cắt đầu tụy tá tràng.

Nối tụy- ruột đã được Desjardins mô tả từ năm 1907 nhưng phát triển của kỹ thuật này rất chậm. Với 2 kỹ thuật mô tả như sau : phần còn lại của tụy được lồng vào hỗng tràng, kỹ thuật khác là đường dẫn tụy được nối với hỗng tràng bằng một đường mở bên ( Stab wound ) của hỗng tràng. Nhưng thực tế là Desjardins chỉ thực hiện được 2 kỹ thuật này trên xác mà không có và thấy được kinh nghiêm lâm sàng của 2 loại miệng nối trên.

Năm 1912 Kausch mô tả trên lâm sàng miệng nối tụy ruột bằng cách lồng phần còn lại của tụy vào tá tràng. Mãi đến năm 1942 Zinninger mới mô tả miệng nối tụy-tiêu hóa bằng cách lồng phần tụy còn lại với hỗng tràng. Năm 1937 Brunschwwig mở rộng hơn quy trình của phẫu thuật Whipple đó là ông cắt cả đầu tụy và hầu hết tá tràng.

Năm 1945 Whiple sửa lại phẫu thuật của mình bằng cách cắt phần lớn của tụy, tá tràng và có miệng nối tụy được thực hiện .

Năm 1940 Catell mô tả kỹ thuật nối tụy- hỗng tràng tận-bên 2 lớp: lớp trong ống tụy với niêm mạc ruột , lớp ngoài bao tụy với thanh cơ ruột.

Những năm sau này quy trình chung của cắt đầu tụy và tá tràng được hoàn thiện như bây giờ đó là thực hiện các bước theo chiều kim đồng hồ ( ClockWise Resection ) đó là :

Bước 1: Thăm dò khả năng có cắt được đầu tụy- tá tràng hay không bằng giải phóng bên phải tá tràng , mặt sau đầu tụy hay còn gọi là thủ thuật Kocher

Hình2 : Sau khi giải phóng tá tràng và mặt sau đầu tụy tay phẫu thuật viên kiểm tra khả năng cắt bỏ thương tổn

Bước 2: Giải phóng cuống gan, tách được đường mật, cắt ngang ống mật chủ, cắt bỏ túi mật.

Bước 3: Giải phóng và cắt hang vị hoặc dưới môn vị

Bước 4: Cắt quai hỗng tràng đầu tiên ở bên trái dưới mạc treo đại tràng ngang, gồm cắt dây chằng hay cơ Treitz, các mạch ngang chạy từ tụy vào đoạn đầu hỗng tràng và lưu ý tĩnh mạch mạc treo tràng dưới .

Bước 5: Tháo bắt chéo, bằng cách đưa quai hỗng tràng đầu tiên sang bên phải, đi sau toàn bộ mạc treo ruột.

Bước 6: Phẫu tích và thắt các mạch 2 bên tĩnh mạch mạc treo tràng trên từ tụy đổ vào, bờ trên tụy là bó mạch môn vị..giải phóng mặt trước tĩnh mạch mạc treo tràng trên chạy sau tụy.Căt tụy theo mặt trước hay bên phải của tính mạch mạc treo tràng trên. Như vậy toàn bộ khối tá tụy được cắt bỏ.

Hình 3: Các bước phẫu thuật theo chiều kim đồng hồ .

Hình 4: Sau khi cắt tụy trước bó mạch mạc treo tràng trên

Sau đó thực hiện phục hồi lại lưu thông tuy- ruôt, mật-ruột và dạ dầy ruột.

Miệng nối tụy-ruột:

Đây là nỗi quan tâm của các tác giả được coi là điểm yếu của gót chân Achill (Achill’s Heel ) vì sau mổ miệng nối này rất dễ bị bục gây viêm phúc mạc, rò tụy, chảy máu.( 40-60% ) và là nguyên nhân tử vong chính sau cắt đàu tụy tá tràng (30 %). Nên đã có rất nhiều các cải tiến được thực hiện:

1. Cắt tụy như thế nào để hạn chế rò tụy, hoại tử… có nhiều phương pháp cắt tụy bằng dao điện, dao siêu âm hay stappler .. nhưng các tác giả cho rằng tốt nhất là cắt tụy bằng dao thường vì ít đụng dập tổ chức, diện cắt gọn dễ cầm máu ít có các biến chứng sau mổ. Nhưng điều này cũng chưa được chứng minh cụ thể (Watanabe-2004)

2. Hạn chế bài tiết dịch tụy ngoại tiết ở phần tụy còn lại bằng cách cho tụy ngừng họat động – làm tắc ống dẫn tụy tạm thời: keo sinh học hay thắt ống tụy .. (Goldsmith-1971)

3. Dẫn lưu ống dẫn tụy qua miệng nối ra ngoài hay dẫn lưu riêng miệng nối tuy-ruột và mật ruột trên quai kiểu chữ Y.

4. Thay đổi vât liệu khâu nối: chỉ khâu có liền kim không gây chấn thương.

5. Hạn chế bài tiết dịch tụy bằng Octreotide (Raptis-1978, Buchler-1992, Gyr-1993, Yeo-2000, Connor-2005…) đẫ được các tác gỉa nghiên cứu dùng Octreotide nhằm ức chế bài tiết dịch tụy ngoại tiết trong và sau phẫu thuật có kết quả.

6. Các kiểu nối tụy với ruột: lộn một phần quai ruột ôm lấy tụy..

Những năm 70 của thế kỷ trước các tác giả thích nối tụy với dạ dầy hơn là nối trực tiếp với hỗng tràng vì họ cho rằng nối với dạ dầy có nhiều thuận lợi: cơ dạ dầy chắc, nhiều mạch nên khả năng bục hay rò miệng thấp. Hơn nữa dịch vị có các yếu tố ức chế hoạt hóa các men ngoại tiết tụy nên khả năng viêm tụy cấp sau mổ ít hơn. (Tripodi và Sherwin nối tụy dạ dầy lần đầu năm 1934. Nhóm phẫu thuật ở Mayo Clinic 1946 , sau này Mackie và cộng sự năm 1975 thống nhất và quảng bá kỹ thuật)

Nghiên cứu gần đây của kleepsie và được nhiều tác giả ưa dùng đó là kỹ thuật nối tụy hỗng tràng tân-tận, có nối ống tụy với niêm mạc ruột như mô tả ban đầu trên xác của Desjasdin được cải tiến bởi Leslie và Blumgart ở New York

Để lại môn vị:

Một số cải tiến được các tác gỉa Traverso và Longmire (1970) thực hiện để lại môn vị mà không cắt hang vị vì các lý do:

Sau khi cắt hang vị theo dõi lâu dài sẽ có nhiều loét miệng nối ở các bệnh nhân cắt đầu tụy tá tràng do các bệnh lành tính vì hạn chế bài tiết Gastrin sau mổ . Nhưng để lại môn vị các tác giả thấy sau mổ bệnh nhân có chướng bụng kéo dài, sự lập lại lưu thông ruột chậm ( delayed gastric Emptying )

Nghiên cứu gần đây nhất của Tran và cộng sự (2009) so sánh 2 nhóm lớn của nhóm được bảo tồn môn vị (Pylorus presrving Pancraeaticoduodenectomy -PPPD và phẫu thuật Whipple chuẩn -Standard Whipple Procedure-SW) cho thấy không có sự khác biệt nào giữa 2 nhóm có ý nghĩa đặc biệt là tỷ lệ bệnh nhân có chướng bụng kéo dài sau mổ (Delayed Gastric Emptying)

Nạo vét hạch sau cắt đầu tụy tấ tràng:

Đây là những nguyên tắc của điều trị phẫu thuật của ung thư càng lấy được nhiều hạch di căn càng tốt. Các nghiên cứu đều thống nhất tỷ lệ sống sau 5 năm ở các bệnh nhân được nạo vết hạch cao hơn có ý nghĩa so với không được nạo vét hạch. Nhất là các hạch có di căn của tế bào ung thư. Nhưng những nghiên cứu gần đây lại không thống nhất với quan điểm trên (Yeo 2002, Farnell-2005)

Điều trị phối hợp:

Hóa trị liệu và xạ trị sau mổ cũng được nghiên cứu trong những năm qua. Có lẽ trong 20 năm qua thành công nhát của điều trị ung thư nói chung là sự phối hợp của các phương pháp điều trị. Tuy nhiên trong ung thư tụy các nghiên cứu có vẻ trái nhau và chưa thống nhất. Các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ở châu Âu thì thấy nhóm điều trị kết hợp sau phẫu thuật tiệt căn của ung thư tụy có thời gian sống sau mổ hơn có ý nghĩa so với nhóm không được điều trị hóa chất. Nhưng điều ngạc nhiên là nếu hóa trị liệu phối hợp với xạ trị lại không có kết quả (Neoptolemos- 2004 ). Các nghiên cứu đa trung tâm ở Đức cũng thấy kết quả tương tự với các bệnh nhân được hóa trị liều sau mổ có chất lượng cuộc sống tốt hơn (euhaus-2005) .Tuy nhiên các nghiên khác ở Mỹ lại có các kết quả trái ngược của điều trị hóa chất và xạ trị sau mổ (Yeo 2002, Riall-2005). Như vậy chưa có sự thống nhất

III. Kết luận:

Như vậy Căt đầu tụy tá tràng là một phẫu thuật lớn, phức tạp cần được thực hiện khi có chỉ định nhất là với ung thư quanh vùng Vater và chấn thương phức tạp đầu tụy và tá tràng. Đã có nhiều các cải tiến kỹ thuật hạn chế được tỷ lệ tai biến và biến chứng và tử vong sau phẫu thuật. Những năm 60 cuả thế kỷ trước tỷ lệ tai biến và biến chứng và tử vong phẫu thuật cao rất cao ( 30-40 % , 30 %..,) Nay đã giảm rất thấp với tai biến và biến chứng 5-7% thậm chí có trung tâm hạ xuống 0% là do những tiến bộ của kỹ thuật, chuẩn bị người bệnh, phát triển của gây mê hồi sức.. và đặc biệt phụ thuộc vào kinh nghiệm của các phãu thuật viên và khối lượng công việc của các bệnh viên .

PGS,TS Nguyễn Ngọc Bich Trưởng Khoa Ngoại BV Bạch mai

Cập nhật thông tin chi tiết về Giới Thiệu Về Clubbing Dance trên website Globaltraining.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!