Xu Hướng 3/2024 # Một Số Phương Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Lịch Sử Ở Trường Thcs # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Một Số Phương Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Lịch Sử Ở Trường Thcs được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Globaltraining.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

MỤC LỤC

Nội dung

Trang

MỤC LỤC

1

2

I. PHẦN MỞ ĐẦU

3

1. Lí do chọn đề tài  

3

2. Mục đích, dối tượng  nghiên cứu

4

3. Nội dung, ý nghĩa của việc nghiên cứu

4

4. Phương pháp nghiên cứu                                                                          

4

5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

4

II. PHẦN NỘI DUNG

5

1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

5

1.1. Cơ sở lí luận                                                                                         

5

1.2. Cơ sở thực tiễn                                                                                     

6

2. Các biện pháp tiến hành, thời gian nghiên cứu

7

2.1. Phương  pháp nghiên cứu                                                                          

7

2.2. Thời gian tiến hành                                                                              

7

3. Mô tả phân tích cụ thể các giải pháp

7

    3.1. Yêu cầu của một học sinh giỏi

7

    3.2. Cách chọn học sinh giỏi                                                                       

8

    3.3. Yêu cầu một bài Lịch sử đạt hiệu quả

9

4. Xây dựng chương trình giảng dạy                                                          

10

5. Tiến hành bồi dưỡng

10

    5.1. Cung cấp kiến thức                                                                             

10

    5.2. Rèn luyện kĩ năng                                                                               

11

6. Khả năng áp dụng                                                                                 

15

III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ                                                        

18

1. Kết luận chung                                                                                       

18

2. Khuyến nghị                                                                                           

18

  Phụ lục                                                                                                   

19

IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO

25

DANH MỤC CÁC TỪ ĐÃ VIẾT TẮT

STT

Các từ được

viết tắt

Nôi dung

1

THCS

Trung học cơ sở

2

SGK

Sách giáo khoa

3

HSG

Học sinh giỏi

4

VN

Việt Nam

5

BCHTW

Ban chấp hành Trung ương

6

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

7

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

8

TBCN

Tư bản chủ nghĩa

9

CNH-HĐH

Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

10

ASEAN

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

11

EU

Liên minh châu Âu

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

—˜&™–

ĐỀ TÀI :

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG

         HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS

I. PHẦN MỞ ĐẦU

          1. Lí do chọn đề tài

          Tìm hiểu “chiến lược phát triển con người”, Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” đã được cụ thể hoá trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt trong xu thế hội nhập quốc tế, mục tiêu “Bồi dưỡng nhân tài” càng được Đảng và Nhà nước quan tâm: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Đất nước muốn phồn thịnh đòi hỏi phải có những nhân tố, có những người tài để giúp nước. Hiện nay, chúng ta đang trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế, gia nhập WTO thì nhân tài là một trong những yếu tố để chúng ta có thể tiếp cận với sự tiến bộ của khoa học công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới đồng thời giúp chúng ta thành công trong phát triển đất nước.

          Thực hiện mục tiêu đó, ngành giáo dục của chúng ta đang cố gắng hướng đến sự phát triển tối đa những năng lực tiềm tàng trong mỗi học sinh. Ở các trường Trung học cơ sở hiện nay, đồng thời với nhiệm vụ phổ cập giáo dục, nâng cao chất lượng đại trà, việc chăm lo bồi dưỡng học sinh giỏi đang được nhiều cấp bộ chính quyền và nhân dân địa phương quan tâm nhưng nguyên nhân sâu xa nhất đó chính là thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

          Thực tế hiện nay ở các trường Trung học cơ sở công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, trong đó có việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đã được chú trọng, song vẫn còn những bất cập nhất định như: cách tuyển chọn, phương pháp giảng dạy còn yếu kém, chưa tìm ra được hướng đi cụ thể cho công tác này, phần lớn chỉ làm theo kinh nghiệm. Từ những bất cập trên dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng không đạt như mong muốn.

          Mặt khác, do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn lịch sử trong đời sống xã hội. Không ít học sinh và phụ huynh có thái độ xem thường bộ môn lịch sử, coi đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần làm bài tập, không cần đầu tư phí công vô ích. Dẫn đến hậu quả học sinh không nắm đựơc những sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến trong thực tế.

           Là một giáo viên giảng dạy môn Lịch sử ở trường THCS, học sinh của trường phần lớn là con em nông dân, đời sống kinh tế còn khó khăn, học sinh ít được tiếp cận với các vấn đề lịch sử, văn hóa chuyên sâu từ các kênh thông tin.

Băn khoăn trước thực trạng đó, tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu để nâng cao kiến thức và phương pháp giảng dạy của bộ môn để gây hứng thú học tập môn lịch sử cho học sinh, nhất là công tác bồi dưỡng học sinh giỏi sao cho đạt hiệu quả. Những năm gần đây trường luôn có học sinh đạt giải cao môn lịch sử cấp huyện và cấp thành phố.

Xuất phát từ những lý do cơ bản trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Một số phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở trường THCS”.

2. Mục đích, đối tượng nghiên cứu:

Nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giảng dạy bộ môn Lịch sử ở Trường Trung học cơ sở, đặc biệt là việc bồi dưỡng đội ngũ học sinh giỏi cho học sinh lớp 9, để lấy đối tượng tham gia bồi dưỡng và dự thi học sinh giỏi cấp thành phố hàng năm.

          3. Nội dung, ý nghĩa của việc nghiên cứu:

          Bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng giúp cho ngành giáo dục phát hiện nhân tài, lựa chọn những hạt giống tốt cho tương lai của đất nước trong sự nghiệp trồng người. Đồng thời giúp cho học sinh thực hiện được ước mơ là con ngoan, trò giỏi và có định hướng đúng về nghề nghiệp của mình trong tương lai.

          Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, góp phần khẳng định chất lượng giáo dục và vị thế, uy tín của giáo viên và nhà trường. Đồng thời còn có ý nghĩa thiết thực trong việc bồi dưỡng tài năng tương lai cho quê hương, đất nước.

          4. Phương pháp nghiên cứu:

          Đề tài này là nhằm đưa ra một số kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử (chọn đối tượng học sinh, phương pháp ôn luyện, kết quả đạt được), để góp phần tạo nguồn quan trọng cho đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử của huyện dự thi cấp thành phố mỗi năm.

          5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

          Đề tài được xây dựng từ việc tích lũy những kinh nghiệm trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trường ở Trung học cơ sở  trên địa bàn huyện thuộc thành phố Hà Nội.         

II. PHẦN NỘI DUNG

          1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

          1.1. Cơ sở lý luận:

          Dân tộc Việt Nam có lịch sử từ lâu đời, với quá trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Nhân dân ta không chỉ có truyền thống dân tộc anh hùng mà còn có kinh nghiệm phong phú, quý báu về việc giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ, về việc rút bài học quá khứ cho cuộc đấu tranh và lao động trong hiện tại. Kiến thức lịch sử góp phần xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, trở thành vũ khí sắc bén trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Ngày nay, “cùng với quá trình quốc tế hóa ngày càng mở rộng thì trở về nguồn cũng là một trong những xu thế chung của các dân tộc trên thế giới. Với chúng ta, đó chính là sự tìm tòi, phát hiện ngày càng sâu sắc hơn những đặc điểm của xã hội Việt Nam, những phẩm chất cao quý, những giá trị truyền thống và những bài học lịch sử giúp chúng ta lựa chọn và tiến hành bước đi thích hợp, hướng mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”(theo nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười) .

          Chất lượng bộ môn Lịch sử được đánh giá không phải bằng việc ghi nhớ nhiều sự kiện mà cần hiểu đúng lịch sử. Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng viết: “Lịch sử đâu phải là một chuỗi sự kiện để người viết sử ghi lại, rồi người giảng sử đọc lại, người học sử học thuộc lòng”. Điều quan trọng là qua học tập, “chúng ta thấy được cái gì qua các thời đại lịch sử và từ đó chúng ta rút ra được kết luận gì, bài học gì. C. Mác- một nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin đã vũ trang cho chúng ta một phương pháp luận đúng đắn để nghiên cứu lịch sử, để rút ra những kết luận có ý nghĩa quan trọng thiết thực”. Đây chính là cơ sở để những người quan tâm đến sử học và những thầy cô giáo giảng dạy môn lịch sử cần nhận thức đúng, sâu sắc, ý nghĩa, vị trí đúng của bộ môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở và tìm ra những phương pháp để nâng cao chất lượng bộ môn, thu hút được nhiều học sinh tham thích học lịch sử và học giỏi lịch sử. Vậy Mục tiêu của bộ môn lịch sử ở trường Trung học cơ sở:

          *Về kiến thức:

          – Cung cấp kiến thức lịch sử ở chương trình Trung học cơ sở học sinh được tìm hiểu sâu những sự kiện cơ bản trong quá trình phát triển của lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc…

          – Tiếp tục bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Lịch sử về kiến thức và kĩ năng, tạo hứng thú say mê học tập, tìm hiểu Lịch sử cho học sinh.

           * Về tư tưởng:

          – Giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, có ý thức xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước, tự hào về những thành tựu văn hóa, văn minh mà tổ tiên ta và loài người đã đạt được

          – Trân trọng, ghi nhớ, biết ơn công lao của tổ tiên  và các anh hùng dân tộc đã ra sức xây dựng và bảo vệ đất nước để có được cuộc sống hiện nay.

           * Về kĩ năng:

          – Hình thành kĩ năng tư duy lịch sử và tư duy logic, nâng cao năng lực xem xét, đánh giá sự kiện, hiện tượng trong mối quan hệ không gian, thời gian và nhân vật lịch sử.

          – Rèn luyện kĩ năng học tập bộ môn một cách độc lập, thông minh như làm việc sách giáo khoa, sưu tầm và sử dụng các loại tư liệu lịch sử, làm bài tập, thực hành…

          – Phát triển khả năng phân tích, đánh giá, so sánh, khái quát, tổng hợp …

          – Vận dụng các kiến thức vào thực tiễn của cuộc sống.

          – Biết đặt vấn đề và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập và cuộc sống hàng ngày.

          1.2. Cơ sở thực tiễn

          *Thuận lợi:

          – Trong hệ thống các môn học ở trường Trung học cơ sở, trong đó có môn lịch sử cũng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục, giáo dưỡng học sinh lòng yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc… là hành trang quan trọng cho học sinh tiếp tục ở những bậc học tiếp theo.

          – Được sự quan tâm của  Ban giám hiệu và các đoàn thể trong nhà trường và sự quan tâm của đa số các bậc phụ huynh và học sinh.

          – Thầy, cô giáo cùng bộ môn ở các trường trong huyện đều nhiệt tình tích cực, trao đổi phương pháp, kinh nghiệm chuyên môn, thông qua hội thảo, chuyên đề, thao giảng, sử dụng công nghệ thông tin…góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử.

          – Được một số học sinh yêu thích và quyết tâm học tập môn lịch sử, tham gia ôn tập dự thi học sinh giỏi cấp huyện.

          * Khó khăn:

          – Quan niệm xã hội về vị trí môn lịch sử là môn phụ.

          – Quan niệm chưa đầy đủ của một số nhà quản lý giáo dục, phụ huynh học sinh và cả giáo viên.

          – Học sinh chưa giành thời gian thường xuyên cho việc học môn tập bộ môn lịch sử.

          – Khối lượng kiến thức môn lịch sử ở một số bài còn dàn trải khá nặng, một số giáo viên còn bị động trong khai thác kiến thức, chưa mạnh dạn để học sinh tự tìm hiểu một phần kiến thức nào đó trong bài dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

            – Thực trạng dạy học môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở hiện nay như trên, nên giáo viên khó phát hiện và lựa chọn được đối tượng học sinh có năng khiếu để bồi dưỡng. Hơn nữa dạy môn Lịch sử hiện nay ở trường phổ thông thiếu nhiều trang thiết bị như: tranh ảnh, bản đồ… Mặt khác, việc dạy môn Lịch sử đôi khi bị giới hạn về thời gian tiết học/đơn vị bài nên khi chú trọng dạy cho học sinh hứng thú thì lại không hết chương trình so với quy định.

            – Để học sinh yêu thích môn Lịch sử, hứng thú học Lịch sử và tham gia học lớp bồi dưỡng học sinh giỏi đi thi đạt hiệu quả, tôi không ngừng học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu tư liệu, phát huy tác dụng của đồ dùng học tập,…

          * Đánh giá cơ sở thực tiễn:

           Căn cứ vào chất lượng bộ môn và kết quả học sinh giỏi môn Lịch sử cấp huyện hàng năm, tôi nhận thấy:

          – Phần lớn giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử.

          – Song vẫn còn một số giáo viên dạy lịch sử chưa thực sự tâm huyết, chưa thực sự đầu tư cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, nên khi được phân công bồi dưỡng không đạt hiệu quả hoặc hiệu quả không cao.

          – Học sinh rất hứng thú học môn Lịch sử khi giáo viên có sự đầu tư vào bài giảng và biết phát huy tính tích cực của học sinh.

          Vì vậy, việc nghiên cứu và những đề xuất của đề tài là hiệu quả, thiết thực, phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của ngành, của đồng nghiệp tâm huyết với bộ môn lịch sử.

2. Các phương pháp tiến hành, thời gian nghiên cứu.

          2.1. Phương  pháp nghiên cứu

          Qua các kênh thông tin, qua chương trình dạy học, qua chương trình tập huấn thay sách, chương trình bồi dưỡng thương xuyên, qua cách ra đề thi học sinh giỏi những năm gần đây…, tôi nhận thấy sự chuyển biến rõ nét trong cấu tạo đề kiểm tra, đề thi đại học, cao đẳng – đặc biệt là đề thi học sinh giỏi.

          2.2. Thời gian tiến hành

          Qua 10 năm học (2006-2007 đến năm học 2024-2024) đảm nhận việc dạy bồi dưỡng cho đội tuyển học sinh giỏi môn lịch sử của ở Trung học cơ sở, tôi đúc kết được những kinh nghiệm ôn luyện học sinh giỏi môn Lịch sử, tôi đã rút ra được cần phải  (chọn sát đối tượng học sinh, phương pháp ôn luyện …).

3. Mô tả, phân tích cụ thể các giải pháp:

           MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:

          – Làm rõ lý luận và thực trạng trong công tác dạy – học và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở.

          – Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở .

          MÔ TẢ GIẢI PHÁP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

           Yêu cầu chung:

           3.1 Yêu cầu một học sinh giỏi

  – Nhiều người thường nghĩ Lịch sử là môn học thuộc lòng nhưng thật ra muốn học giỏi thì phải đọc và hiểu sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”. Nhưng quan trọng nhất, người học giỏi lịch sử phải biết hệ thống hóa các nội dung Lịch sử bằng những sơ đồ nhánh, biểu đồ thống kê tư duy theo từng sự kiện, mốc thời gian, ghi nhớ có sự liên kết. Từ đó, ta mới có thể dễ dàng ghi nhớ nội dung và dữ liệu của môn học. Bởi môn lịch sử là một môn khoa học biện chứng.

          – Là học sinh giỏi Lịch sử không phải chỉ cần tính siêng học bài mà là phải có khả năng lập luận, thông minh, trí nhớ tốt. Đặc biệt là phải có niềm đam mê, yêu thích Sử học.

          – Học sinh không những nắm được những kiến thức của giáo viên mà còn phải biết độc lập suy nghĩ, tìm tòi, biết khái quát nội dung chương trình hay thắc mắc những gì mình còn nhận thức mơ hồ.

          – Nhưng nắm vững lý thuyết chưa đủ mà học sinh còn phải rèn luyện kỹ năng phân tích đề; kỹ năng viết bài và trình bày bài làm. Nhìn một bài làm hay, thì chữ đẹp bao giờ cũng dễ gây thiện cảm cho người đọc, nhất là đối với các môn khoa học Xã hội. Đây là một công việc khó khăn, học sinh cần phải được luyện tập lâu dài, thông qua các bài viết (có sự sửa chữa của giáo viên kịp thời).

          Ngoài ra, học sinh giỏi môn Lịch sử phải biết sử dụng triệt để các thao tác phân tích, tổng hợp để đánh giá, nhận định về một sự kiện hay vấn đề lịch sử, biết chọn ra những chi tiết, sự kiện lịch sử nào để chứng minh, giải thích theo yêu cầu của đề bài. Hơn nữa, học sinh ấy phải biết trình bày một bài làm Lịch sử có hệ thống, logic,…

          3.2. Cách chọn học sinh giỏi.

          – Lâu nay tôi thường chọn học sinh giỏi theo quy trình: Tuyển chọn đội tuyển vào cuối mỗi năm học để bồi dưỡng, động viên trong thời gian hè. Vào đầu mỗi năm học mới tiếp tục chọn lần hai và tăng cường bồi dưỡng để tham gia ôn tập dự thi cấp huyện. Việc chuyển chọn như vậy tôi thấy hiệu quả. Mặt khác đối với bộ môn Lịch sử tôi thấy việc tuyển lựa rất khó, do học sinh cứ xem thường môn học cho đó là môn học phụ. Nên giáo viên dạy môn lịch sử phải lựa chọn đối tượng sau cùng. Những em có năng khiếu đặc biệt thường thích ôn luyện các môn học tự nhiên. Vì có kiến thức cơ bản, vững vàng các em cần nắm rõ các công thức, quy tắc, định nghĩa, định lí rồi linh hoạt nhạy bén, áp dụng để làm bài. Còn các môn học ít tiết như Lịch sử, Địa lí cần học bài dài và nhiều nên phần đông các em rất chán.

          – Kết hợp khi dạy trên lớp tôi thường ra đề kiểm tra theo hướng mở hoặc đưa ra những câu hỏi, bài tập nhận thức để khuyến khích học sinh có sự đầu tư, sáng tạo khi trả lời trước tập thể lớp hay viết trong làm bài và thưởng điểm cho những học sinh biết cách làm bài đúng theo yêu cầu và có sáng tạo.

          – Tôi tiến hành chọn những học sinh có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề nhanh, đúng bản chất sự kiện, vấn đề lịch sử. Trong bài viết, tôi đặc biệt chú ý những bài học sinh trả lời đúng yêu cầu thể hiện nắm vững kiến thức, trình bày, lập luận logic, kết hợp chữ viết rõ ràng, nếu viết đẹp càng tốt.

          – Trong những năm gần đây, việc lựa chọn học sinh giỏi môn Lịch sử vào đội tuyển của trường, qua các bài kiểm tra phát hiện học sinh có năng khiếu, có sự yêu thích học Lịch sử tôi trực tiếp gặp các em để tìm hiểu tâm lý, khơi dậy ở học sinh niềm đam mê, giới thiệu các em tham gia vào đội tuyển để bồi dưỡng. Phân tích cho các em niềm tự hào, vinh dự khi đạt giải môn thi cấp huyện, cấp thành phố – đó là sự ghi nhận sự cố gắng và kết quả mà các em đã đạt được.

          – Bên cạnh đó, tôi còn gặp các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm thăm hỏi tình hình học tập của các em để chọn ra những học sinh có năng lực, có tố chất thông minh và làm  việc siêng năng. Học sinh đó phải học khá các môn khác, nhất là môn Toán, Ngữ văn, vì môn Lịch sử cũng cần ở học sinh khả năng phân tích, tư duy logic và kết hợp những kiến thức văn, thơ minh họa cho bài viết thêm sinh động, giảm sự khô khan nhàm chán gây được thiện cảm cho người đọc.

– Với cách lựa chọn như trên, trong 3 năm gần đây trường có số lượng học sinh giỏi môn Lịch sử đạt giải cấp huyện  và cấp thành phố khá cao so với giai đoạn trước đó. Cụ thể :

    Năm học 2014 – 2024 có: 2/2 HS đạt giải, trong đó có 01 giải Nhì cấp huyện. 01 HS đạt giải KK cấp thành phố.

    Năm học 2024- 2024 có: 2/2 đạt giải (trong đó có 01 đạt giải Nhì, 01 em đạt giải Ba cấp huyện và dự thi cấp thành phố đạt 01 giải Ba, 01 giải KK).

    Năm học 2024- 2024 có 2/2 HS đạt giải (01 giải Nhì, 01 KK cấp huyện và dự thi cấp thành phố đạt 1 giải Ba và 01 giải KK). (xem BẢNG 1, 2).

          Vậy vấn đề đặt ra là cần phải phát hiện những học sinh có khả năng giỏi Lịch sử từ lúc nào? Nên tổ chức bồi dưỡng từ lớp nào? Trên thực tế, có nhiều trường khi chuẩn bị thi mới tập trung học sinh để ôn luyện, nhưng theo tôi việc phát hiện và chọn học sinh giỏi phải làm sớm – vào đầu mỗi năm học mới; tổ chức bồi dưỡng phải thường xuyên, không nhất thiết phải ôn thi vào các buổi bồi dưỡng mà ở các tiết học, các môn học các em cần phải quan tâm, được uốn nắn và phát hiện kịp thời.

          3.3. Yêu cầu một bài Lịch sử đạt hiệu quả.

          – Phải biết suy luận: Bài làm môn Lịch sử cần đi thẳng vào vấn đề, không viết rườm rà, dẫn đến lạc đề. Hãy đọc kỹ đề bài, hiểu rõ câu hỏi và thiết kế những kiến thức đã học theo ý đồ của câu hỏi, đừng bắt câu hỏi phải đi theo kiến thức có sẵn của mình. Học sinh phải biết chọn ra những chi tiết, sự kiện lịch sử nào để chứng minh, giải thích theo yêu cầu của đề bài.

          – Không được phép làm bài theo kiểu nhớ mang máng. Môn Lịch sử là một môn học tuyệt đối kỵ với các khái niệm mù mờ.

Ví dụ không được nhớ nhầm “Mặt trận dân tộc thống nhất” thành “Mặt trận thống nhất dân tộc”. Không được viết lẫn lộn giữa những chữ “đấu tranh”,“chiến đấu”, “khởi nghĩa”…

          – Một bài viết Lịch sử hay là bài viết của học sinh đó biết thổi hồn vào những con số, phải tái hiện được sự kiện, hiện trượng, vấn đề lịch sử.

4. Xây dựng chương trình giảng dạy

Ôn luyện học sinh giỏi không giống như tiết dạy ở lớp học bình thường. Vì ở lớp ta dạy cho học sinh phù hợp với ba đối tượng (khá- giỏi, trung bình và yếu kém). Song dạy cho học sinh giỏi là ta dạy để đưa các em đi dự thi. Đối tượng dự thi đều ngang tầm nhau về mặt học lực, nhận thức. Vì vậy, việc xây dựng nội dung chương trình là hết sức cần thiết. Đây là công việc quan trọng đầu tiên sau khi thành lập đội tuyển. Tôi xây dựng chương trình – kế hoạch bồi dưỡng theo tiến trình phát triển của Lịch sử gồm 2 phần như sau:

1) PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI:

         Lịch sử thế giới hiện đại (Từ 1945 đến nay)

2) PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM:

 - Lịch sử Việt Nam từ 1858-1918.

      – Lịch sử Việt Nam từ 1919- 1954:

* Giai đoạn Việt Nam từ (1919-1930).

                   * Giai đoạn Việt Nam từ (1930-1945).

                   * Giai đoạn Việt Nam từ (1945-1954).

          Ngoài ra, tôi tập trung biên soạn các chuyên đề nâng cao trong chương trình để bổ sung kiến thức cho học sinh khi bồi dưỡng như: chuyên đề về phong trào công nhân; chuyên đề về Nguyễn Ái Quốc, chuyên đề Đảng cộng sản Việt Nam,…

5. Tiến hành bồi dưỡng

          5.1. Cung cấp kiến thức

          Yêu cầu kiến thức trong chương trình lịch sử ở trường Trung học cơ sở chỉ dừng lại ở mức độ nhất định, nên nội dung bài giảng trong sách giáo khoa đều nhằm mục đích cung cấp kiến thức cơ bản về tiến trình lịch sử thế giới và Việt Nam theo diện rộng, chưa đi vào chiều sâu. Đối với học sinh giỏi yêu cầu phải hiểu biết sâu sắc và toàn diện. Các em phải nắm chắc bản chất các sự kiện, hiện tượng lịch sử, các vấn đề lịch sử,… để có đủ tự tin, có sự sáng tạo khi giải quyết bất kì đề thi nào.

          Một việc quan trọng để cung cấp kiến thức cho học sinh là chọn và giới thiệu những tài liệu đảm bảo chất lượng cho các em. Thị trường sách hiện nay khá phong phú, hay dở đan xen, nhưng quỹ thời gian của học sinh thì có hạn, nên tôi chọn và mua hoặc phô tô cho học sinh các sách như: Sách giáo khoa (chương trình cũ), Sách lịch sử nâng cao …để làm tư liệu tham khảo.

          Trong chương trình bồi dưỡng, tôi kết hợp dạy kĩ hệ thống kiến thức cơ bản theo chuẩn kiến thức, kỹ năng bằng việc lựa chọn những sự kiện, những vấn đề lịch sử trọng tâm cho các em rồi tiến hành mở rộng kiến thức bằng các chuyên đề nâng cao.

          Từ các chuyên đề là công cụ giúp học sinh giải quyết tốt các loại đề thi. Tôi tiến hành dạy từng chuyên đề phù hợp với khả năng và chương trình cho học sinh bồi dưỡng.

          Sau khi dạy xong một chuyên đề, một bài lịch sử, tôi yêu cầu học sinh phải dành một khoảng thời gian để suy nghĩ, nhìn nhận vấn đề đó, đặc biệt là ý nghĩa của sự kiện đó với giai đoạn trước và sau nó.

Ví dụ: như khi học về phong trào Cần Vương thì hãy đối chiếu nó với phong trào chống Pháp trong những năm 1858 – 1884 hay Phong trào dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX …hay như khi học về Cuộc vận động dân chủ 1936-1939 thì phải tìm hiểu xem nó giống và khác gì so với phong trào 1930-1931 hay về sau là với Cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939-1945 … Làm như vậy sẽ giúp học sinh nhớ được kiến thức và nếu gặp các dạng bài hệ thống, so sánh … học sinh làm bài đạt hiệu quả cao hơn.

          Theo tôi, để một học sinh được tham gia dự thi  môn Lịch sử các cấp học sinh đó phải nắm vững kiến thức cơ bản của bộ môn Lịch sử – Kiến thức cơ bản ở đây không chỉ là những sự kiện đơn lẻ mà phải bao gồm hệ thống những hiểu biết cần thiết về những sự kiện, niên đại, nhân vật, địa danh, các nguyên lý, quy luật, những kết luận khái quát, phương pháp, kỹ năng. Vì vậy, khi nắm vững kiến thức học sinh mới có khả năng ứng phó được với các loại câu hỏi, bài tập. 

          5.2. Rèn luyện kỹ năng

          * Kỹ năng tìm hiểu tài liệu

          Nội dung chương trình lịch sử quá rộng, tôi không đủ thời gian để dạy từng bài trong sách giáo khoa, nên việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu trước bài trong sách giáo khoa là rất quan trọng. Sách giáo khoa Lịch sử Trung học cơ sở được biên soạn – trình bày theo bài, theo tiến trình thời gian. Tôi đã hướng dẫn học sinh nắm được mục đích – yêu cầu, những sự kiện quan trọng và trọng tâm kiến thức của từng bài học Lịch sử lớp 9. Trên cơ sở đó các em về nhà tìm hiểu kỹ sách giáo khoa và trả lời những câu hỏi trong sách giáo khoa yêu cầu. Với cách làm trên khi ôn luyện cho học sinh tôi chỉ tập trung phân tích chuyên sâu những nội dung lịch sử.

          Để tìm hiểu tài liệu đạt hiệu quả học sinh cần phải:

          1. Nắm đề: Đề ở đây là tên đề bài, tên tiểu mục. Nhiều học sinh học thuộc nội dung nhưng lại không nhớ tên tiểu mục, khi làm bài có thể “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, nghĩa là lạc đề.

          Vậy trước khi học tiểu mục nào, nên nắm chắc tên tiểu mục ấy. Chuyển tiểu mục ấy thành câu hỏi. Ví dụ như “Ba tổ chức Đảng cộng sản nối tiếp nhau ra đời năm 1929”. Tự đặt ra câu hỏi như: “Ba tổ chức cộng sản ấy tên là gì? Tại sao ra đời? Bao giờ? Ở đâu? Có ý nghĩa gì?” Như vậy kích thích hứng thú học tập, hiểu sâu, nhớ lâu. Đó là chủ động trong học tập.

          2. Nắm khung: Khung là dàn ý của cả bài hoặc của từng phần. Trước khi học cả bài hay từng phần nên nắm chắc cái dàn ý của nó. Dàn ý thường theo giai đoạn hoặc theo sự kiện, bao gồm: nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa. Nắm khung giúp nhớ có hệ thống và nhớ lâu, dễ trả lời những câu hỏi tổng hợp.

          3. Nắm chốt: Lịch sử bao giờ cũng gắn liền sự kiện – địa danh – nhân vật lịch sử. Nên “chốt” là thời điểm gắn với một sự kiện quan trọng hoặc tương đối quan trọng. Ở lịch sử lớp 9 yêu cầu học sinh phải nhớ cả ngày, tháng, năm. Nếu chỉ là tương đối quan trọng, có thể chỉ cần nhớ tháng và năm, thậm chí chỉ nhớ năm, cũng tạm được. Nên tìm các mối quan hệ giữa các chốt về thời gian và sự kiện thì dễ nhớ và nhớ lâu.

          4. Thuật ngữ: Cần phải nhớ đúng những thuật ngữ Lịch sử, không được nhầm lẫn giữa một số thuật ngữ “đấu tranh”, “chiến đấu”, “khởi nghĩa”,”kháng chiến”…vì mỗi chữ có một nghĩa khác nhau.

          * Kỹ năng phân tích đề

          Về các Đề thi học sinh giỏi thường có mấy loại sau đây:

Ví dụ: Lập bảng kê các các nước tham gia khối ASEAN theo nội dung sau:

STT

Tên nước

Thủ đô

Ngày giành

độc lập

Nét nổi bật trong tình hình hiện nay

          – Loại đề thi tự luận: Có nhiều dạng yêu cầu theo mẫu tự luận.

          Ví dụ 1: Vì sao Hội nghị BCH TW Đảng (11/1939) chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược? Trình bày nội dung và ý nghĩa của Hội nghị này.

          Ví dụ 2: Vì sao ta mở chiến dịch Biên giới thu – đông 1950? Chiến dịch này có bước tiến gì so với chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947?

          Các loại đề thi như trên không chỉ yêu cầu học sinh phải nhận biết chính xác sự kiện, nhận thức đúng bản chất lịch sử mà còn đòi hỏi học sinh thể hiện khả năng lập luận, trình bày, diễn đạt tốt.

          + Đề thi về xác lập mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện lịch sử:

          Ví dụ: Hãy sắp xếp theo trình tự thời gian các sự kiện chủ yếu từ khi Nguyễn Ái Quốc về nước (1941) trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến khi Cách mạng tháng Tám thành công và giải thích mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử này?

          Loại đề thi này yêu cầu học sinh phải suy nghĩ kỹ, nếu không sẽ dễ nhầm lẫn với loại đề hệ thống hóa kiến thức cơ bản đã trình bày trên. Đề thi yêu cầu thí sinh không chỉ ghi nhớ các sự kiện lịch sử theo tiến trình thời gian mà điều quan trọng là thí sinh phải lý giải mối quan hệ giữa các sự kiện đã được lựa chọn.

          + Đề thi xác định tính kế thừa giữa các sự kiện lịch sử, giai đoạn, thời kì lịch sử: Đề yêu cầu học sinh phải hiểu rõ quá trình phát triển liên tục, thống nhất, tính phong phú, đa dạng, cụ thể của các sự kiện, giai đoạn, thời kì lịch sử. Khi làm loại đề này, học sinh phải nắm vững một vấn đề có tính quy luật trong sự phát triển của lịch sử.Sự kiện xảy ra trước tác động đến sự ra đời và phát triển của sự kiện tiếp sau, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau.

+ Đề thi xác định tính kế thừa giữa các sự kiện trong quá trình lịch sử cũng như loại đề thi vềmối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện, song nó tập trung hơn vào một sự kiện chính; nó nâng cao hơn về mặt khái quát – lý luận.

Ví dụ: Trên cơ sở trình bày mục đích của Hội Duy tân và Việt Nam Quang phục hội, anh (chị) hiểu gì về tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu?

          – Loại bài thi thực hành lịch sử: Yêu cầu học sinh không chỉ có biểu tượng lịch sử chính xác, giàu hình ảnh mà còn biết vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống, lao động và công tác xã hội. Vì vậy, nội dung bài thi thực hành lịch sử giúp học sinh rèn luyện kỹ năng bộ môn. Những số liệu, câu hỏi đưa ra trong bài làm cần ngắn gọn, rõ ràng, đầy đủ, dễ hiểu và giải quyết được vấn đề đặt ra. Đề thi thường gặp vẽ bản đồ, lược đồ gồm sử dụng bản đồ câm đến vẽ và trình bày theo bản đồ.

          Ví dụ 1: Dùng bản đồ câm các nước Đông Nam Á vào nửa sau thế kỉ XX, ghi tên nước, ngày giành độc lập và tên thủ đô.

          Ví dụ 2: Vẽ biểu đồ và tường thuật (viết) diễn biến cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

          Để giải quyết được những dạng đề như trên khâu quan trọng là việc phân tích đề, bởi vì phân tích đề tốt sẽ giúp học sinh xác định, lựa chọn đúng kiến thức, lập dàn ý dễ dàng.Phân tích đề đúng sẽ tránh trường hợp lạc đề, lệch đề.

          Cấu tạo đề thi học sinh giỏi hiện nay rất nhiều câu, nhiều dạng đề, đòi hỏi học sinh phải tư duy và xử lý nhanh các kỹ năng phân tích đề, phân bố thời gian, xác định thời gian, không gian, nội dung lịch sử và yêu cầu của câu hỏi … sao cho phù hợp là kỹ năng cần rèn luyện thường xuyên.

          * Kỹ năng làm bài

          – Phân tích câu hỏi trong đề thi.

          Phải đọc hết và hiểu chính xác từng từ, từng chữ trong câu hỏi.Trong đề thi, một câu hỏi chặt chẽ sẽ không có từ nào là “thừa”.Đọc kĩ câu hỏi để xác định thời gian, không gian, nội dung lịch sử và yêu cầu của câu hỏi (trình bày, so sánh, giải thích, phân tích, đánh giá…)

          – Phân bố thời gian cho hợp lí. Hãy căn cứ vào điểm số của từng câu mà tính thời gian, mỗi điểm khoảng 15 phút là phù hợp.

          – Lập dàn ý chi tiết.

          Hãy coi mỗi câu hỏi như một bài viết ngắn, lập dàn ý, xác định những ý chính và trình tự của các ý. Sau đó hãy “mở bài”, đừng mất nhiều thời gian suy nghĩ về “mở bài”. Khi đã xác định đúng nội dung sẽ biết mở bài thế nào, và nên mở bài trực tiếp, ngắn gọn – không quá 10 dòng. Sau khi viết hết nội dung,  sẽ biết kết luận. Đừng nghĩ trước kết luận và cũng chỉ nên kết luận thật ngắn gọn.

          – Về hình thức: không phải ai cũng viết được chữ đẹp, câu hay, nhưng hãy cố gắng viết cho rõ ràng, đúng câu, đúng chính tả, đừng dùng từ sáo rỗng, dài dòng, đừng viết tắt. Hãy luôn nhớ: Đúng, đủ, rõ ràng, lời văn giản dị, trình bày khoa học. Tuyệt đối không được viết tùy tiện, rườm rà.

          Khuyến khích học sinh có thể dẫn chứng thơ, văn học, những nhận định, đánh giá,… để minh họa trong quá trình làm bài thi.

          !Lưu ý: Để làm một bài thi lịch sử đạt hiệu quả cao học sinh phải:

            1. Hiểu đề: Đọc thật kĩ từng chữ trong câu hỏi để hiểu rõ người ta hỏi vấn đề gì? Phạm vi thời gian của câu hỏi là từ năm nào đến năm nào? Như vậy tránh được lạc đề hoặc thiếu ý.

          2. Dựng khung: Dù thuộc đến mấy cũng không viết ngay vào giấy thi. Hãy viết dàn ý vào giấy nháp sao cho thật đầy đủ và có hệ thống, đáp ứng yêu cầu của câu hỏi.

          3. Cắm chốt: Ở mỗi phần của dàn ý ấy, ghi những chốt, nghĩa là sự kiện quan trọng cùng với thời điểm của nó. Như vậy bài làm sẽ không bỏ sót những sự kiện quan trọng.

          4. Viết sạch: Viết vào giấy thi một cách sáng sủa, dễ đọc. Hết mỗi ý chính, mỗi sự kiện nên xuống dòng. Thấy cần thiết để làm nổi bật từng giai đoạn, từng sự kiện, từng ý nghĩa có thể ghi 1, 2, 3 hoặc a, b, c hoặc gạch đầu dòng, vì Lịch sử là một môn khoa học xã hội, có thể trình bày một cách có hệ thống. Như vậy cũng dễ cho người chấm.Bài thi lịch sử trong những năm gần đây nhiều câu nên học sinh không được chủ quan, viết quá dài – rườm rà.

          Chữ nào sai thì dung thước gạch đi, không nên xoá lem nhem, không đưa vào ngoặc đơn. Nếu trót thiếu cả một đoạn dài, có thể ghi bổ sung xuống cuối bài. Phải chia thời gian để trả lời đủ các câu hỏi, tránh đầu voi đuôi chuột, nghĩa là làm bài đầu tiên thì viết bài cẩn thận, đầy dủ, chi tiết, rõ rang, mạch lạc, sạch, đẹp, nhưng sau đó thì viết cẩu thả, thiếu ý, tùy tiện thiếu nội dung hoặc mập mờ không rõ nội dung..

          5. Đọc lại: Phải tính toán thời gian, để khi viết bài xong, vẫn còn độ 10, 15 phút. Nhất thiết phải đọc lại bài để sửa chữa những chỗ sai sót nhầm lẫn rồi mới nộp bài.Đọc lại là khâu rất quan trọng để bài thi được điểm cao hơn.

          * Chấm và sửa bài

          Một học sinh giỏi không chỉ nắm vững kiến thức lịch sử, vững kỹ năng mà còn có sự sáng tạo. Vì vậy, trong quá trình bồi dưỡng cho học sinh tôi thường xuyên quan tâm đến việc chấm và sửa bài cho học sinh. Bài viết cần phải được sửa chữa, chỉ bảo cụ thể, để phát huy những cái hay, sửa sai kịp thời những cái dở, để có sự nhìn nhận đánh giá một cách công bằng, khách quan mỗi khi tuyển lựa đội tuyển chính thức đi dự thi.

          Sau khi dạy một chuyên đề, hay một giai đoạn lịch sử tôi thường tổ chức kiểm tra để chấm và sửa bài cho học sinh. Kiểm tra có thể cho bài tập để các em về nhà làm, quy định thời gian nộp bài, nhưng theo tôi tốt nhất là cho học sinh làm bài kiểm tra ngay trên lớp bồi dưỡng.

          Ngoài ra tôi còn khuyến khích học sinhcó thể tự tìm đề để viết rồi đưa cho thầy cô sửa giúp, sau đó viết lại nhuần nhuyễn.Cách này giúp học sinh tăng khả năng trình bày, diễn đạt của mình và tạo thêm kỹ năng ứng phó tốt với nhiều loại đề.

6. Khả năng áp dụng

          Đề tài có tính khả thi, có thể áp dụng lâu dài và rộng rãi cho giáo viên dạy bồi dưỡng học sinh giỏi bộ lịch sử ở trường Trung học cơ sở để nâng cao hiệu quả chất lượng môn Lịch sử nói chung và bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng.

          Từ sự cố gắng của giáo viên và học sinh, nên kết quả đạt được trong kì thi học sinh giỏi môn Lịch sử ở trườngmà tôi giảng dạy liên tục trong những năm qua(xem Bảng 1,2 và biểu đồ 1,2)là cơ sở để tôi nghiên cứu, thực hiện đề tài này và sẽ áp dụng vào công tác giảng dạy, bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi của trường, của huyện và thành phố trong những năm học tiếp theo.

BẢNG 1:

          SỐ LƯỢNG HSG CẤP HUYỆN, CẤP THÀNH PHỐ

      TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SKKN

Năm học

HS giỏi cấp huyện

HS giỏi cấp thành phố

Ghi chú

Số lượng

Tỉ lệ %

Số lượng

Tỉ lệ %

2011-2012

1/2

50

0

0

2012-2013

2/2

100

1/1

100

2013-2014

1/2

50

0

0

BẢNG 2:

              SỐ LƯỢNG HSG CẤP HUYỆN, CẤP THÀNH PHỐ

                SAU KHI ÁP DỤNG SKKN

Năm học

HS giỏi cấp huyện

HS giỏi cấp thành phố

Ghi chú

Số lượng

Tỉ lệ %

Số lượng

Tỉ lệ %

2014-2024

2/2

100

1/1

100

2024-2024

2/2

100

2/2

100

2024-2024

2/2

100

2/2

100

BIỂU ĐỒ 1:TỈ LỆ HS THI ĐỖ CẤP HUYỆN, THÀNH PHỐ

                                   (TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SKKN)

Tỉ lệ%

Năm học

BIỂU ĐỒ 2:TỈ LỆ HS THI ĐỖ CẤP HUYỆN, THÀNH PHỐ

                                        (SAU KHI ÁP DỤNG SKKN)

    Tỉ lệ%

Năm học

Kết luận: Từ kết quả ở bảng 1 và bảng 2 và 2 biểu đồ trên cho thấy kết quả thi học sinh giỏi bộ môn Lịch sử của nhà trường từ khi áp dụng SKKN đã tăng lên rõ ràng không những ở cấp huyện mà cả cấp thành phố, góp phần vào bảng thành tích chung của nhà trường hàng năm.

III. PHẦN KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ:

          1. Kết luận chung:

Qua nghiên cứu trình bày ở trên tôi khẳng định mục đích nghiên cứu đặt ra đã được hoàn tất. Trong quá trình nghiên cứu tôi xin rút ra một số kết luận sau:

          – Để bồi dưỡng học sinh giỏi Lịch sử đạt hiệu quả trước hết phải có những giáo viên vững vàng về kiến thức, kỹ năng thực hành lịch sử.

          – Thực sự yêu nghề, tâm huyết với công việc bồi dưỡng học sinh giỏi.Niềm đam mê là yếu tố rất cần thiết khi bạn muốn dạy tốt và có học sinh học tốt môn Lịch sử.

          – Thường xuyên học hỏi trau dồi kiến thức, đọc sách báo để ngày càng làm phong phú thêm vốn kiến thức của mình.

          – Có phương pháp nghiên cứu bài, soạn bài, ghi chép giáo án một cách khoa học.

          – Tạo sự giao tiếp cởi mở, thân thiện với học sinh, mẫu mực trong lời nói, việc làm, thái độ, cử chỉ có tâm hồn trong sáng lành mạnh để học sinh noi theo.

          – Giáo viên phải khơi dậy niềm say mê, hứng thú của học sinh đối với môn học Lịch sử, luôn phối hợp với gia đình để tạo điều kiện tốt nhất cho các em tham gia học tập. Trong quá trình nghiên cứu, xuất phát từ cơ sở lý luận và thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử.Đề tài xin mạnh dạn đề xuất một số biện pháp có tính thực tiễn phù hợp với tình hình bồi dưỡng học sinh giỏi lịch sử hiện nay.

          – Tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử:

+ Phát hiện những học sinh có khả năng trở thành học sinh giỏi lịch sử.

+ Bồi dưỡng kiến thức lịch sử.

+ Bồi dưỡng kỹ năng tìm hiểu tài liệu lịch sử.

+ Bồi dưỡng kỹ năng phân tích đề.

+ Bồi dưỡng kỹ năng làm bài thi lịch sử.

           2. Khuyến nghị:

           Đối với mỗi nhà trường nên tổ chức chọn đội tuyển và bồi dưỡng học sinh giỏi ngay từ cuối năm học trước hoặc đầu năm học sau, chú trọng hơn công tác khảo sát, lựa chọn học sinh vào lớp bồi dưỡng học sinh giỏi để đạt được kết quả cao nhất.

Xin chân thành cảm ơn!

Tháng 5 năm 2024

PHỤ LỤC

MỘT SỐ CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP LỊCH SỬ

A. PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI:

Câu 1: Hội nghị Ianta (2/1945) diễn ra trong hoàn cảnh nào? Hội nghị đã có những quyết định quan trọng nào?

Câu 2: Liên Hợp Quốc: Hoàn cảnh ra đời, mục đích, nguyên tắt hoạt động và vai trò của Liên hợp quốc.

Câu 3: Sự đối lập về chính trị và kinh tế giữa hai khối nước: Tây Âu TBCN và Đông Âu XHCN như thế nào?

Câu 4: Trình bày những thành tựu chủ yếu trong công cuộc xây dựng CNXH của Liên Xô từ năm 1945 đến giữa những năm 70.Những thành tựu đó có ý nghĩa gì?.

Câu 5: Trình bày những thành tựu chính các nước Đông Âu đạt được trong công cuộc xây dựng CNXH từ năm 1950 đến giữa những năm 70. Những thành tựu đó có ý nghĩa gì?.

          Câu 6: Phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu.

Câu 7: Sự thành lập nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa và ý nghĩa của sự thành lập nhà nước này? Hãy cho biết đường lối và thành tựu cải cách và mở cửa của Trung Quốc?.

Câu 8: Trình bày những nét chính về phong trào đấu tranh giành độc lập ở Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai?.

Câu 9: Qúa trình thành lập, mục tiêu, nguyên tắc và sự phát triển của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN). Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập tổ chức này?.

Câu 10: Những biến đổi của các nước Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai?

Câu 11: Trình bày các giai đoạn phát triển và thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Phi từ năm 1945 đến nay. Phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Phi có đặc điểm gì? Những khó khăn thử thách mà Châu Phi đang gặp phải?.

Câu 12: Những nét chính về phong trào giải phóng dân tộc ở Mĩ Latinh từ sau chiến tranh thế giới thứ hai? Cuộc đấu tranh giành độc lập ở Cuba diễn ra như thế nào?.

Câu 13:Tình hình nước Mỹ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay: Sự phát triển nhảy vọt về kinh tế và khoa học – kĩ thuật như thế nào? Những nguyên nhân dẫn tới sự phát triển kinh tế của Mỹ. Chính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ như thế nào?.

Câu 14: Sự phát triển “thần kỳ” của nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai như thế nào? Những nguyên nhân của sự phát triển đó?.

Câu 15:Trình bày khái quát sự phát triển của các nước Tây Âu qua các giai đoạn từ 1945 đến năm 2000. Sự thành lập và phát triển của Liên minh châu Âu (EU).Vì sao nói Liên minh châu Âu là tổ chức liên kết khu vực lớn nhất thế giới?

Câu 16: Trình bày các xu thế phát triển của thế giới sau chiến tranh lạnh chấm dứt. Liên hệ đến công cuộc đổi mới của đất nước ta.

Câu 17: Trình bày nguồn gốc, đặc điểm, thành tựu và tác động của Cách mạng khoa học công nghệ nửa sau thế kỉ XX.

Câu 18: Xu thế toàn cầu hóa được thể hiện trên những lĩnh vực nào? Vì sao nói toàn cầu hóa vừa là thời cơ vừa là thách thức đối với các nước đang phát triển?.

Câu 19: Các xu thế phát triển của thế giới hiện nay là gì? Những thời cơ và những thách thức đặt ra cho dân tộc Việt Nam trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế như thế nào?.

B. PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM:

            Câu 20:  Nguyên nhân và hoạt động khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp ở Việt Nam? Cuộc khai thác lần thứ hai của thực dân Pháp ở Việt Nam làm cho xã hội Việt Nam biến đổi như thế nào?Phân tích khả năng cách mạng của từng tầng lớp giai cấp xã hội Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất.

Câu 21: Trình bày những hoạt động yêu nước của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ 1919 đến năm 1925.

 - Quá trình chuyển biến của Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản đã diễn ra như thế nào?(Gợi ý: trình bày tóm tắt tiểu sử, những hoạt động yêu nước từ 1911 đến 1925)

Câu 22: Sự ra đời của ba tổ chức Cộng sản trong năm 1929: Hoàn cảnh ra đời, quá trình hình thành và ý nghĩa lịch sử.

Câu 23: Trình bày hoàn cảnh, nội dung của hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930. Nội dung của Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt – cương lĩnh chính trị đầu tiên được Nguyễn Ái Quốc trình bày tại hội nghị thành lập Đảng. Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam? Tại sao nói Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặc vĩ đại của cách mạng Việt Nam?.

Câu 24:Nguyên nhân, diễn biến chính và ý nghĩa lịch sử Phong trào cách mạng 1930 – 1931. Nêu rõ sự ra đời và hoạt động của Xô viết Nghệ – Tĩnh. Vì sao nói phong trào cách mạng 1930 – 1931 là cuộc tập dượt đầu tiên của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng chuẩn bị cho thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945.

Câu 25: Cao trào vận động dân chủ 1936 – 1939: Hoàn cảnh lịch sử, chủ trương của Đảng ta, diễn biến, kết quả và ý nghĩa lịch sử.

          Câu 26: Trình bày hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa lịch sử của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VI (11/1939).

Câu 27:Trình bày hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa lịch sử của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII (5/1941).

Câu 28: Tại sao trong 2 năm 1939, 1941 Ban chấp hành Trung ương Đảng đều triệu tập hội nghị? Vấn đề quan trọng nhất được các hội nghị đề cập tới là gì?

          Câu 29: Mặt Trận Việt Minh được thành lập như thế nào? Mặt Trận Việt Minh có những đóng góp gì đối với thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám 1945?.

Câu 30: Khi Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương, Đảng ta có chủ trương gì? Nội dung của chủ trương đó như thế nào?(Nội dung của bản chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta). Trình bày diễn biến và ý nghĩa lịch sử của cao trào khánh Nhật cứu nước.

          Câu 31:Cách mạng tháng Tám 1945: Nguyên nhân (hoàn cảnh lịch sử), diễn biến chính và ý nghĩa lịch sử của cách mạng tháng Tám. Phân tích, nguyên nhân thành công và những bài học kinh nghiệm của cách mạng tháng Tám 1945.Sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và ý nghĩa lịch sử của nó.

         Câu 32: Tình hình nước ta trong những năm đầu tiên sau cách mạng tháng Tám như thế nào? Đảng và nhân dân ta đã từng bước thoạt khỏi những khó khăn đó như thế nào để bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám? (những thuận lợi và khó khăn; cách giải quyết nạn đói, nạn dốt, tài chính, xây dựng chính quyền; đấu tranh với Tưởng và tay sai; đấu tranh với Pháp – Nội dung và ý nghĩa của Hiệp định sơ bộ 6/3).

         Câu 33: Vì sao Đảng và nhân dân ta phát động cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp?. Phân tích nội dung đường lối kháng chiến của Đảng ta như thế nào? 

         Câu 34: Trình bày âm mưu của địch, chủ trương kế hoạch của ta, diễn biến, kết quả và ý nghĩa lịch sử của chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947.

         Câu 35: Trình bày âm mưu của địch, chủ trương kế hoạch của ta, diễn biến, kết quả và ý nghĩa lịch sử của chiến dịch Biên Giới thu – đông 1950.

         Câu 36: Trình bày âm mưu của địch, chủ trương kế hoạch của ta, diễn biến, kết quả và ý nghĩa lịch sử của chiến cuộc đông – xuân 1953-1954.

         Câu 37: Trình bày âm mưu của địch, chủ trương kế hoạch của ta, diễn biến, kết quả và ý nghĩa lịch sử của chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.

Câu 38: Phân tích nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

         

BÀI TẬP NÂNG CAO

Phần lịch sử thế giới:

Câu 1.Nêu những chuyển biến lớn của các nước Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay.Phân tích một chuyển biến quan trọng nhất?

Câu 2.Từ những đặc điểm của quan hệ quốc tế trong trật tự thế giới ở thế kỉ XX, em có suy nghĩ gì về sự hình thành trật tự thế giới mới.

Câu 3.Quá trình thành lập và phát triển tổ chức ASEAN? Quan hệ Việt Nam – ASEAN: cơ hội thách thức.

Câu 4.Các giai đoạn phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Phi?Đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Phi?Vì sao năm 1960 gọi là “Năm Châu Phi”?Tác động của phong trào cách mạng Việt Nam đối với phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Phi trong những năm 1954 – 1960?

Câu 5.Quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra như thế nào?Việt Nam trong quan hệ quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay?

Câu 6.Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật sau chiến tranh thế giới thứ hai?Đảng ta đã vận dụng những thành tựu cách mạng khoa học – kỹ thuật trong việc thực hiện CNH, HĐH đất nước như thế nào?

Câu 7.Xu thế toàn cầu hóa được thể hiện trên những lĩnh vực nào? Vì sao nói toàn cầu hóa vừa là thời cơ vừa là thách thức đối với các nước đang phát triển?.

Câu 8.Các xu thế phát triển của thế giới hiện nay là gì? Những thời cơ và những thách thức đặt ra cho dân tộc Việt Nam trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế như thế nào?.

Phần lịch sử Việt Nam:

Câu 9.Lập bảng so sánh ba tổ chức yêu nước cách mạng (Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Tân Việt cách mạng Đảng, Việt Nam quốc dân đảng) theo yêu cầu sau:

Nội dung

Hội VN cách mạng thanh niên

Tân Việt cách mạng đảng

Việt Nam quốc dân đảng

Thời gian

Lãnh đạo

Lực lượng tham gia

Nhiệm vụ

Xu hướng

Câu 10.Nêu những sự kiện lịch sử tiêu biểu của phong trào cách mạng 1930 – 1935 và phân tích một sự kiện tiêu biểu nhất thể hiện tính chất triệt để của phong trào.

Câu 11.Nét nổi bật nhất của từng phong trào cách mạng: 1930 – 1931; 1932 – 1935; 1936 – 1939; 1939 – 1945? Bài học lớn nhất của từng phong trào đối với thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945.

Câu 12.Hãy phân tích những điểm chung và những nét đặc thù của các phong trào cách mạng 1930 – 1931; 1936 – 1939; 1939 – 1945.

Câu 13.Nêu những sự kiện tiêu biểu nhất trong tiến trình lịch sử Việt Nam từ 1930 đến 1945. Hãy phân tích một sự kiện tiêu biểu nhất có ảnh hưởng đến giai đoạn lịch sử trong những giai đoạn tiếp theo.

Câu 14.Vì sao Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, sách lược trong giai đoạn cách mạng 1936 – 1939? Sự chuyển hướng đó có gì mâu thuẫn với nội dung của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng không? Vì sao?

Câu 15.Những nghị quyết quan trọng của Đảng trong thời kì cách mạng 1939 – 1945?Phân tích một nghị quyết có tác dụng đến việc vận động toàn quân, toàn dân đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc năm 1945.

Câu 16.Lập bảng so sánh ba thời kì lịch sử: 1930 – 1931; 1936 – 1939; 1939 – 1945, theo yêu cầu sau:

Nội dung

1930 – 1931

1936 – 1939

1939 – 1945

Chủ trương của đảng

Nhiệm vụ cách mạng

Hình thức đấu tranh

Khẩu hiệu đấu tranh

Kết quả đấu tranh

Bài học kinh nghiệm

Câu 17.Nêu những mốc lịch sử quan trọng trong thời kì cách mạng 1939 – 1945.Tác dụng của những mốc lịch sử đó đối với thắng lợi của cách mạng tháng Tám và khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa.

Câu 18. Công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đối với cuộc vận động cách mạng tháng Tám (1939 – 1945) như thế nào?

Câu 19.Trình bày diễn biến chính của cao trào kháng Nhật cứu nước từ tháng 3/1945 đến tháng 8/1945?Vì sao qua cao trào kháng Nhật cứu nước đã tạo tiền đề thúc đẩy cho thời cơ Tổng khởi nghĩa của cách mạng tháng Tám nhanh chóng chín muồi?

Câu 20.Từ năm 1930 đến năm 1945, Đảng ta đã giải quyết hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến như thế nào? Phân tích sự sáng tạo của Đảng ta trong việc giải quyết hai nhiệm vụ đó.

Câu 21.Hãy chứng minh rằng: Thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945 là thắng lợi của quá trình chuẩn bị lâu dài kết hợp với việc chớp lấy thời cơ phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc.

Câu 22.Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, tập hợp mọi lực lượng yêu nước xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong các mặt trận dân tộc thống nhất được Đảng ta xúc tiến như thế nào trong giai đoạn cách mạng 1930 – 1945?

Câu 23. Con đường cách mạng bạo lực của quần chúng: kết hợp giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang để đi đến giành thắng lợi trong cách mạng tháng Tám 1945 như thế nào?

Câu 24.Trình bày những nguyên nhân dẫn đến sự thành công của cách mạng tháng Tám.Phân tích một nguyên nhân có tính chất quyết định nhất đối với thắng lợi của cuộc cách mạng này.

Câu 25.Nêu những khó khăn của nước ta sau cách mạng tháng Tám và phân tích những khó khăn làm cho nước ta đứng trước tình thế như “ngàn cân treo sợi tóc”.Những chính sách của Đảng và nhà nước ta trước tình thế đó?

Câu 26.Hãy làm sáng tỏ vai trò của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ chính quyền, giữ vững độc lập dân tộc những năm đầu tiên sau cách mạng tháng Tám(2/9/1945 – 19/12/1946).

Câu 27.Hãy nêu những chiến thắng tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta và phân tích một chiến thắng tiêu biểu nhất.

Câu 28.Thông qua trình bày hai sự kiện cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, hãy cho biết âm mưu và hành động cuối cùng của Pháp – Mĩ đã bị đánh bại như thế nào?

          Qua đó, hãy liên hệ với những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tôc ta để có thể rút ra bài học truyền thống nổi bật trong việc kết thúc chiến tranh.

Câu 29.Hãy chứng minh rằng: Từ thu đông năm 1950 đến xuân – hè 1953 quân và dân ta đã giữ vững và phát triển thế chủ động chiến lược, liên tục tiến công địch, đánh tiêu diệt với quy mô ngày càng lớn trên các chiến trường ở Đông Dương.

Câu 30.Hậu phương là một nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh.Nếu không có hậu phương vững mạnh bảo đảm sự chi viện thường xuyên về lực lượng của cải và tinh thần cho tiền tuyến thì không có một quân đội nào có thể giành được thắng lợi.

          Hãy phân tích vai trò của hậu phương trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta.

Câu 31.Phân tích sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ 1946 đến 1954.

Câu 32.Những nét chính về cuộc kháng chiến toàn quân chống thực dân Pháp xâm lược đã diễn ra và kết thúc như thế nào?Bài học lịch sử được rút ra từ cuộc kháng chiến này.

Câu 33. Vì sao Pháp cử Nava sang làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương? Kế hoạnh quân sự của Nava vào tháng 5/1953 có gì khác với tháng 11/1953?Kế hoạch đó lần lượt bị phá sản như thế nào?

Câu 34. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ:

          -Vì sao Pháp cho xây dựng tập đoàn cứ điểm ở Điện Biên Phủ?

          -Vì sao ta quyết định đánh địch ở Điện Biên Phủ?

          -Giải thích: Chiến thắng Điện Biên Phủ là “tiếng chuông báo tử của chủ nghĩa thực dân”.

Câu 35.Hãy lập bảng thống kê trong thời kì kháng chiến chống Pháp(1946 – 1954), theo yêucầu sau:

Thời gian

Các đời tướng của Pháp

Â.mưu và kế hoạch của chúng

Những thắng lợi của ta

Ý nghĩa lịch sử

1. Sách giáo khoa Lịch sử  8, 9. NXB Giáo dục

2. Sách giáo viên  Lịch sử  8, 9. NXB Giáo dục

3. Tuyển chọn đề thi HỌC SINH GIỎI 9 VÀ TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 CHUYÊN môn Lịch sử.  NXB Đại học Sư phạm

4. Hướng dẫn trả lời CÂU HỎI & BÀI TẬP LỊCH SỬ 9.NXBĐHSP

5. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS. NXB Giáo dục

6. Lịch sử thế giới Cận đại. NXB Giáo dục

7. Lịch sử thế giới Hiện đại. NXB Giáo dục

8. Đại cương Lịch sử Việt Nam tập I, II, III. NXB Giáo dục

9. Phương pháp dạy học Lịch sử. NXBĐHSP

                                                                   

Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Yêu Thích Môn Lịch Sử Ở Trường Thcs

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH YÊU THÍCH MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS A. PHẦN MỞ ĐẦU I. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI : Hiện nay, các trường phổ thông đang phải đối mặt với tình trạng học sinh chán Sử, ghét Sử. Đó là một thực tế đáng suy ngẫm. Làm sao để biến giờ Sử khô khan thành một giờ học hấp dẫn, cuốn hút, khiến học sinh yêu thích môn học này là trăn trở có lẽ không chỉ của giáo viên môn Lịch sử. Từ trong bản chất, con người là động vật khát khao hiểu biết. Sự hiểu biết sẽ trở thành mục đích cho chính nó. Muốn làm được điều đó thì người dạy phải có những biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS nói riêng và các trường phổ thông nói chung. Điều quan trọng và cần thiết nhất là luôn tạo cho các em niềm khát khao tìm hiểu, biết tự đánh giá và nhận xét khách quan các sự kiện hay nhân vật lịch sử nào đó, khiến các em đam mê thực sự chứ không bị gò bó hay ép buộc bởi bất cứ một lí do nào. II. CƠ SỞ THỰC TIỄN : Trong cuộc sống kinh tế thị trường ngày nay khi hầu hết các giá trị đều qui đổi thành hàng hóa tiền bạc và lợi nhuận thì kiến thức từ các môn tự nhiên được phụ huynh và học sinh hết sức đề cao. Ngược lại các môn khoa học xã hội, đặc biệt các “môn phụ” như Sử, Địa… thì học sinh chỉ học cho qua loa đại khái thậm chí còn cảm thấy “chán ngán” nếu như giáo viên dạy môn đó không cải tiến phương pháp, dạy theo lối truyền thống “đọc-chép”. Câu hỏi ” Học lịch sử để làm gì?” cũng sẽ được qui về giá trị lợi ích mà nó đem lại. Điều này cũng được phản ánh rõ nét nhất bằng các kì thi tốt nghiệp THPT và kì thi ĐH, Cao đẳng những năm gần đây, số học

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -1Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS sinh được điểm không môn lịch sử ngày càng nhiều là điều chúng ta dễ hiểu. Ở các trường THCS nói chung ,đa số học sinh còn lười học và chưa có sự say mê môn học Lịch sử, ngay cả khi hỏi đến những mốc quan trong nhất của lịch sử dân tộc nhiều em cũng không trả lời được, khi được giải đáp về câu hỏi đó thì cũng không hiểu gì về sự kiện lịch sử ấy. Việc gây hứng thú học tập cho học sinh nói chung, giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử nói riêng không phải lúc nào cung được chú ý thường xuyên. Đây không phải là vấn đề mới nhưng để thực hiện tốt không dễ. Làm thế nào để học sinh yêu thích môn Lịch sử? Làm thế nào để Lịch sử trở thành bộ môn được học sinh coi trọng như các môn học khác chính là vấn đề đặt ra với mỗi giáo viên mỗi trường học, mỗi cấp học hiện nay. Bởi vậy trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này tôi mạnh dạn đặt ra vấn đề và bước đầu đề xuất ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giờ học Lịch sử cũng như giúp học sinh yêu thích môn học này hơn nữa. B. NỘI DUNG I. THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS : 1. Về phía giáo viên : Đa số giáo viên coi môn này là môn phụ, học xong chỉ kiểm tra đơn thuần không tổ chức thi vượt cấp do đó sự tâm huyết với môn sử của đại đa số giáo viên dạy môn này còn ít. Sự chuẩn bị chu đáo cho bài dạy chỉ tập trung ở tiết thanh tra, thao giảng mà thôi. 2. Về phía phụ huynh và học sinh : – Học sinh không thích học môn lịch sử vì cho rằng đó chỉ là môn phụ không quan trọng, nội dung kiến thức quá dài, khó nhớ, nhiều sự kiện – Phụ huynh : Nếu con em mình chọn thi môn lịch sử trong các kì thi học sinh giỏi, Đại học, Cao đẳng…thì đại đa số phụ huynh học sinh đều phản đối kịch liệt vì cho rằng không thực tế, ra trường khó xin việc… Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -2Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS 3. Nguyên nhân của thực trạng trên : Trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang phát triển, trước tác động ngày càng mạnh của xu thế toàn cầu hóa, chúng ta đang gặp nhiều khó khăn trở ngại do chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo còn thấp hơn so với yêu cầu. Hơn thế nữa, khi hội nhập toàn cầu sẽ có nhiều cái mới, nhiều nét văn hóa khác biệt du nhập và ảnh hưởng đến nước ta. Nếu không khéo lựa chọn, không có bản lĩnh để tiếp thu tinh hoa, loại bỏ những mặt trái, những tiêu cực sẽ là một thảm họa lớn với nền văn hóa dân tộc. Và tất nhiên khi văn hóa bị lai căng, xuống dốc, bản sắc dân tộc sẽ không còn. Thực tế này đang dần hiển hiện trong lối sống, cách ứng xử hiện nay và cả trong môn Lịch sử những năm gần đây đặc biệt là năm 2012 vừa qua, điểm thi môn Lịch sử trong các kì thi quá thấp đã đặt ra cho chúng ta một vấn đề: Vì sao lại như vậy? Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến học sinh không yêu thích môn Lịch sử. Theo cá nhân tôi thì do những nguyên nhân sau: – Nguyên nhân quan trọng hàng đầu và trước tiên là sự đối xử không công bằng đối với môn Lịch sử trong chương trình giảng dạy của hệ thống giáo dục phổ thông, trong khi chúng ta đều biết và đều coi Toán, Lí, Hóa, Văn, Sử, Địa là những môn khoa học có vị trí vai trò ngang nhau ở các cấp học phổ thông thì thời gian học môn Lịch sử chỉ được bố trí từ 1-1,5 tiết/ tuần trong khi môn Văn, Toán là 4 đến 5 tiết/tuần. Hay là trong nhà trường hạn chế tối đa môn Toán, Văn có tiết 5 trong mỗi buổi học thay vào đó là môn Sử, GDCD…Sự đối sử bất bình đẳng đó kéo dài trong nhiều năm dần dà làm nảy sinh trong thầy cô và học trò một lối ứng xử ngầm phi văn bản là xem môn Sử là môn học phụ. – Nguyên nhân thứ hai ảnh hưởng rất lớn đến việc học môn Lịch sử giảm sút là chế độ thi cử. Các trường Đại học quân sự trước đây bắt buộc thi môn Lịch sử, những năm gần đây đã bỏ hẳn. Các trường Đại học An Ninh ngày trước cũng bắt buộc thi môn Lịch sử giờ đây chỉ còn một ít chỉ tiêu khối C còn lại nhường chỗ cho khối A. các trường Luật, Báo chí, Văn Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -3Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS Hóa trước đây thi khối C hiên nay chỉ tiêu khối A, D còn nhiều hơn. Thi đầu vào cấp III, ngoài đầu vào Toán, Văn là bắt buộc thì môn thứ ba rơi tự do nhưng môn Sử ở tỉnh An Giang tôi thấy chỉ được thi vài năm. Chính vì vậy qua tiếp xúc trao đổi với học sinh, tìm hiểu các em cũng như các bậc phụ huynh tôi hiểu rằng: không phải các em không thích học mà là không muốn học các môn khoa học xã hội chứ không riêng gì môn Lịch sử đơn giản chỉ vì các môn học này không phải là phương tiện để giúp các em kiếm sống dễ dàng trong xã hội ngày nay. – Nguyên nhân thứ ba có thể nói xuất phát chủ yếu từ 2 nguyên nhân trước. Đó là hầu hết giáo viên dạy môn Lịch sử cấp THCS đều được đào tạo 2 chuyên môn như Văn – Sử; Sử – GDCD … Chính vì thế những giáo viên này đều chú trọng vào môn Ngữ văn. Mặt khác thái độ “phân biệt” với môn Lịch sử dẫn đến tiết dạy ít được đầu tư nên không gây hứng thú với học sinh. Từ đó kết quả bộ môn thấp là không thể tránh khỏi. – Nguyên nhân thứ tư: Cách viết sách giáo khoa môn Lịch sử hiện nay chưa thực sự hấp dẫn với người học bời lối viết dài, cứng nhắc, quá nhiều sự kiện. – Một nguyên nhân nữa khiến học sinh chưa yêu thích học môn Lịch sử là công tác tuyên truyền trong và ngoài nhà trường chưa thực sự quan tâm mạnh mẽ. Đa số các trường đều chưa tổ chức cho học sinh tham quan thực tế, các buổi ngoại khóa tìm hiểu kiến thức lịch sử, do đó mà hầu hết các em đều “ngoảnh lưng” với môn học này. II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH YÊU THÍCH MÔN LỊCH SỬ : 1. Thay đổi cách nhận thức về môn học này : – Giáo viên và học sinh coi môn Lịch sử là một môn khoa học. Muốn vậy người thầy phải luôn luôn nghiêm túc với tiết dạy Lịch sử. Thường ở trường THCS giáo viên dạy Văn thì đi đôi với dạy Sử, Địa…do đó giáo viên chỉ coi trọng môn Văn còn môn Sử thì dạy cho hết giờ rồi thôi. Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -4Năm học 2013-1014

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -5Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS có các trò chơi phù hợp, ví dụ các trò chơi: Nhận diện lịch sử, giải ô chữ lịch sử, sưu tầm và thuyết minh về những hình ảnh lịch sử, trả lời nhanh… Theo báo cáo của trung tâm nghiên cứu kĩ thuật của Mỹ vào năm 1993: ” Con người lưu lại trong bộ nhớ được khoảng 20% những gì họ thấy và khoảng 30% những gì họ nghe và con số này có thể lên đến 80% nếu họ thấy và nghe sự vật, hiện tượng một cách đồng thời”. Qua những số liệu này và quá trình giảng dạy thực tế ở trường phổ thông có thể thấy việc dạy học Lịch sử chỉ với những phương tiện truyền thông như bảng đen, lời nói của thầy cô giáo và một ít phương tiện dạy học mang tính tĩnh( Bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ…) chắc chắn mức độ ghi nhớ sẽ không cao và nhanh quên. Trong khi đó nếu học sinh được xem phim tư liệu, bản đồ, sơ đồ động( được thực tế theo logic sự kiện) tranh ảnh, màu sắc sinh động, kết hợp với lời nói của giáo viên thì khả năng ghi nhớ của các em sẽ tăng lên. Không những thế nếu làm được điều này chúng ta sẽ tạo lên được bầu không khí học tập sinh động, khơi gợi hứng thú học tập cho các em, đồng thời khắc sâu những kiến thức mà các em tiếp thu được. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta gạt bỏ phương pháp dạy học truyền thống mà là ” kê thừa” phát triển mặt tích cực của hệ thống phương pháp dạy học đồng thời cần phải học hỏi, vận dụng những phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực khắc phục những vấn đề mà phương pháp dạy học cũ còn nhiều vấn đề chưa phù hợp. 3. Khơi dậy niềm yêu thích môn Lịch sử ở học sinh : Môn học lịch sử không chỉ trang bị kiến thức mà còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc ở người học, cung cấp cho họ nền tảng văn hóa – điều rất cần thiết trong thời kì đất nước đang hội nhập sâu rộng với quốc tế. Hiện nay, môn học này đã được quan tâm đầu tư đúng mức hay chưa, là điều mà dư luận đang đặt nhiều tranh cãi. Nhất là khi có không ít học sinh không còn yêu thích, hào hứng với việc học lịch sử.

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -6Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS “Học Lịch sử để làm gì?”, “Lịch sử có ích gì cho cuộc sống của học sinh?”. “Khi đưa ra câu hỏi này nhiều người sẽ trả lời ngay: “Học Lịch sử để yêu nước”, “giữ gìn truyền thống”, “để rút ra bài học trong quá khứ”…. Những câu trả lời này không sai nhưng theo tôi nó là sản phẩm thể hiện tư duy nhìn từ góc độ “quốc gia”. Trên thực tế, con người hành động vì lợi ích. Lợi ích càng cụ thể, thiết thực thì hành động càng mạnh mẽ. Giáo dục Lịch sử muốn thu hút được sự quan tâm, chú ý của người học thì nó phải đem lại lợi ích mà người học nhìn thấy và hưởng thụ trực tiếp”. Chính vì vậy, khi dạy Lịch sử, bên cạnh các lợi ích nhìn từ góc độ quốc gia, cũng rất chú ý đến những lợi ích nhìn từ góc độ cá nhân – công dân. Xét ở góc độ này, giáo dục lịch sử phải góp phần giúp học sinh cải thiện được giao tiếp của bản thân đối với gia đình (nhiều thế hệ), cộng đồng xung quanh (địa phương, những người trong một nước và những người đến từ nền văn hóa khác). Giáo dục lịch sử cũng phải giúp học sinh nhận thức được hiện thực đang diễn ra trước mắt, giải thích nó từ góc độ lịch sử bằng các sử liệu thực chứng. Giáo dục lịch sử phải giúp cho học sinh có những năng lực cần thiết như năng lực tư duy phê phán, năng lực đưa ra quyết định, năng lực sáng tạo, năng lực biểu hiện… Xa hơn nữa là phải nhắm tới việc tạo nên những phẩm chất công dân tốt đẹp ở người học sinh. Giáo dục lịch sử phải góp phần quan trọng để tạo nên hình ảnh người công dân mơ ước của đông đảo nhân dân. Đó là những con người có khả năng nhận thức và cải tạo hiện thực để tạo nên một hiện thực khác tốt đẹp hơn. Nói cách khác đó là việc học sinh đi từ học tập Lịch sử đến hành động trong thực tiễn với vai trò của người công dân góp phần sáng tạo nên lịch sử. Nghĩa là, người giáo viên khi dạy Lịch sử phải nhắm đến hình thành ở học sinh hai thứ cần thiết: năng lực nhận thức lịch sử một cách khoa học và phẩm chất công dân. Một khi trả lời được rõ ràng câu hỏi “Dạy Lịch sử để làm gì?”, người giáo viên sẽ tìm kiếm được câu trả lời cho cho các câu hỏi tiếp theo: “Dạy cái gì?”, “Dạy như thế nào?”. Và khi làm được điều đó, giáo viên sẽ làm cho học sinh yêu thích môn Lịch sử. 4. Thường xuyên tổ chức hoạt động ngoại khóa :

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -7Năm học 2013-1014

Vua nào mặt sắt đen sì?

Vua nào trong thuở hàn vi ở chùa? (Là những ai? – Đáp án: Mai Thúc Loan, Lý Công Uẩn) 3.

Đố ai trên Bạch Đằng Giang

Làm cho cọc nhọn dọ ngang sáng ngời Phá quân Nam Hán tơi bời Gươm thần độc lập, giữa trời vung lên? ( Là ai?- Đáp án: Ngô Quyền) 4.

Ngàn năm trang sử còn ghi

Mê Linh, sông Hát chỉ vì non sông Chị em một dạ, một lòng Đuổi quân Tô Định khỏi vùng biên cương (Là ai?- Đáp án: Hai Bà Trưng) Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -8Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS 5.

Đố ai qua Nhật sang Tàu

Soạn thành huyết lệ hơn cầu tàn thư Hô hào vận động Đông Du Kết đoàn cùng với sĩ phu khắp miền (Là ai?- Đáp án: Phan Bội Châu) Ngoài ra còn rất nhiều vần thơ khác đồng nghiệp có thể tìm hiểu ở cuốn Câu đố Việt Nam(NXB Hồng Đức). Qua áp dụng tôi thấy một không khí thi đua tìm hiểu Lịch sử diễn ra sôi nổi và các em rất mong được có nhiều câu hỏi, câu đố vui như thế. Cứ như vậy, nội dung kiến thức cơ bản về lịch sử sẽ giúp các em khắc sâu hơn để rồi vào giờ học chính khóa môn Lịch sử các em tiếp thu bài nhanh hơn, tự nhiên hơn. III. ÁP DỤNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG MỘT TIẾT DẠY CỤ THỂ MÔN LỊCH SỬ LỚP 6 : Tiết 1: SƠ LƯỢC VỀ MÔN LỊCH SỬ Với bài này tôi đã vận dụng linh hoạt rất nhiều phương pháp khác nhau khiến bài giảng sinh động: Phương pháp thuyết trình, vấn đáp, kể chuyện, đồng thời tôi ứng dụng vào tiết dạy này. SƠ LƯỢC VỀ MÔN LỊCH SỬ I. Mục tiêu bài học : 1. Kiến thức : – Xã hội loài người có lịch sử hình thành và phát triển. – Mục đích học tập Lịch sử (để biết gốc tích tổ tiên, quê hương đất nước, để hiểu hiện tại). 2. Kỹ năng : Bồi dưỡng về tính chính xác và sự ham thích học tập môn lịch sử.

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -9Năm học 2013-1014

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

NỘI DUNG 1. Lịch sử là gì ?

– Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ. – Lịch sử là khoa học tìm hiểu và dựng lại toàn bộ

Trường THCS Hòa Bình Thạnh – 10 Năm học 2013-1014

2. Học lịch sử để làm gì ? – Học lịch sử để hiểu được cội nguồn của dân tộc, tổ tiên, làng xóm. – Biết quá trình đấu tranh với thiên nhiên và chống ngoại xâm để giữ gìn độc lập dân tộc. – Biết Lịch sử phát triển của nhân loại để rút ra những bài học kinh nghiệm cho hiện tại và tương lai. 3. Dựa vào đâu để biết và dựng lại Lịch sử ?

Căn cứ vào: – Tư liệu truyền miệng ( Truyền thuyết). – Tư liệu chữ viết (Văn bia, tư liệu thành văn). – Tư liệu hiện vật ( Trống đồng, bia đá).

Trường THCS Hòa Bình Thạnh – 11 Năm học 2013-1014

7A1 (37 HS)

7A2 ( 39HS)

7A3 (40HS)

Tỉ lệ

Tỉ lệ

Tỉ lệ

22

59. 4%

24

61.5%

22

55%

10

27.1%

12

30.8%

15

37.5%

5

13.5%

3

7.7%

3

7.5%

5

13.5%

6

15.4%

5

12.5%

17

46%

19

48.7%

19

47.5%

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh – 12 Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS kinh nghiệm

15

40.5%

14

35.9%

16

40%

II. NHỮNG VẤN ĐỀ BỎ NGÕ : – Để giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ngoài những biện pháp mà tôi nêu ở trên thì cần có các giải pháp trước mắt như: chỉnh sửa Sách giáo khoa, thay đổi chế độ thi cử, về lâu dài cần đưa môn Lịch sử thành môn thi bắt buộc bên cạnh môn Văn, Toán như các nước vẫn làm đối với giáo dục phổ thông. Nước Mĩ có hơn 200 năm lịch sử dân tộc nhưng họ dành 5 tiết học lịch sử/ tuần, trong khi nước ta có hàng 1000 năm lịch sử dân tộc thì chỉ dành 1,5 tiết/ tuần. Việc đưa ra các giải pháp hữu hiệu khắc phục sự sa sút đáng lo ngại của môn lịch sử trong nhà trường là trách nhiệm không chỉ của cơ quan chức năng mà của giới Sử học cả nước nói chung rằng môn Lịch sử cần được nâng tầm cho đúng chức năng, vai trò của nó. Đặc biệt trong quá trình đất nước hội nhập thì môn Lịch sử nhất là quốc sử càng cần được coi trọng để giúp giới trẻ xây dựng nhân cách, bản lĩnh con người để giữ gìn bản sắc dân tộc trước sự giao thoa văn hóa thế giới. – Cần thay đổi nếp nghĩ, không coi môn Lịch sử là “môn phụ” trong nhà trường và toàn xã hội. III. ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG : – Những biện pháp trên của môn Lịch sử áp dụng cho các cấp học phổ thông đặc biệt là cấp THCS. – Người giáo viên phải yêu nghề, phải say bộ môn, có thời gian nhất định để đầu tư khai thác xây dựng bài, lựa chọn phương tiện dạy học và có được hình thức tổ chức dạy học hợp lý gây dược hứng thú với học sinh.

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh – 13 Năm học 2013-1014

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh – 14 Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS – Đối với giáo viên: Ngoài những kiến thức có trong Sách giáo khoa, người giáo viên cần không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn, tiếp cận sự kiện mới nhất để giảng cho học sinh.

Lời kết: Với mục tiêu thực hiện tốt các cuộc vận động ” Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và cuộc vận động ” Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học sáng tạo” cùng với phong trào ” Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.” Bản thân tôi với tư cách là một giáo viên bộ môn, tôi luôn suy nghĩ tìm tòi các phương pháp dạy học sao cho học sinh của mình có thể nắm bắt kiến thức một cách dễ hiểu nhất, giúp các em có hứng thú với bộ môn, tránh được áp lực khi học bộ môn này. Bằng sáng kiến của mình, tôi rất mong muốn được đóng góp một phần nhỏ cùng với các bạn đồng nghiệp để học sinh yêu thích học môn Lịch sử hơn. Trong quá trình viết, không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong các đồng nghiệp góp ý để sáng kiến được hoàn thiện hơn. Trong thời gian tôi làm sáng kiến tôi đã nhận được không ít sự giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp, của tổ chuyên môn, và sự tạo điều kiện của nhà trường. Tôi xin trân trọng cảm ơn! Hòa Bình Thạnh, ngày 28 tháng 10 Người thực hiện

Lê Ngọc Khánh

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh – 15 Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS

MỤC LỤC NỘI DUNG

A. Phần mở đầu I. Tính mục đích của đề tài II.Cơ sở thực tiễn

B. Nội dung và phương pháp tiến hành I. Thực trạng dạy – học lịch sử ở Trường THCS II. Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử III. Áp dụng đổi mới phương pháp dạy học …

C. Kết luận I. Kết quả thu được II. Vấn đề bỏ ngỏ III. Điều kiện áp dụng IV. Bài học kinh nghiệm V. Đề xuất kiến nghị

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

TRANG

Trường THCS Hòa Bình Thạnh – 16 Năm học 2013-1014

Phương Pháp Ôn Học Sinh Giỏi Môn Lịch Sử

Bên cạnh những môn văn, toán, anh, lý, hóa, sinh, địa thì môn sử cũng là một trong những môn được nhiều bạn yêu thích và lựa chọn để thi học sinh giỏi. Như chúng ta đã biết, dân tộc ta có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước rất đáng tự hào. Môn lịch sử không chỉ cung cấp những cột mốc lịch sử đáng ghi nhớ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc mà còn giúp các thế hệ sau rút ra được bài học quý báu. Để có thể ôn thi tốt môn này, bạn phải có những phương pháp học tập dành riêng cho việc luyện thi học sinh giỏi lịch sử. Bài viết sau đây mà trung tâm gia sư giới thiệu sẽ dành cho những ai đang muốn tìm hiểu về phương pháp ôn thi học sinh giỏi môn lịch sử.

Cách làm bài thi học sinh giỏi môn sử

Nắm vững kiến thức căn bản trong sách giáo khoa

Dù bạn học bất kì môn nào thì kiến thức cơ bản của môn ấy luôn có vị trí then chốt. Môn lịch sử cũng tương tự như vậy. Trước khi nghiên cứu đến các tài liệu khác của môn lịch sử, bạn cần học kĩ kiến thức được đề cập trong sách giáo khoa. Những kiến thức này sẽ là nền tảng để bạn ôn tập các kiến thức cũ cũng như tiếp thu thêm các kiến thức mới.

Đặt mục tiêu

Mục tiêu được hiểu nôm na là đích đến mà bạn muốn hướng đến. Bạn sẽ không thể ôn thi tốt học sinh giỏi môn lịch sử nếu như mục tiêu của bạn không phải là như thế. Ngoài việc xác định rõ mục tiêu trong thời gian ôn thi học sinh giỏi, mục tiêu của bạn còn phải thật chi tiết. Theo đó, sau khi đã có trong tay tài liệu, bạn hãy chia tài liệu ấy thành từng phần nhỏ.

Mục tiêu càng chi tiết sẽ càng giúp bạn hạn chế tình trạng muốn bỏ cuộc khi đang ôn thi. Hơn thế nữa, mỗi khi bạn hoàn thành mục tiêu chi tiết, bạn sẽ có thêm động lực để hoàn thành mục tiêu lớn. Lưu ý rằng, mục tiêu chi tiết của bạn cần có nội dung về lịch sử cần phải học, thời gian học cụ thể. Bạn nên để lịch trình ấy ở những vị trí dễ nhìn thấy để luôn nhắc nhở bản thân tuân thủ nghiêm ngặt kế hoạch ôn thi. Chẳng hạn, ở trên bàn học hay dán ở tủ lạnh, lưu trữ ở điện thoại, v.v…

Ôn thi học sinh giỏi sử

Kiên trì

Ông bà ta có câu: “Có công mài sắt có ngày nên kim” hay “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”. Những câu nói này đã khuyên răn chúng ta phải luôn kiên trì trong cuộc sống. Dù mục tiêu khó khăn như thế nào, chúng ta vẫn có thể vượt qua. Trong việc ôn thi học sinh giỏi môn lịch sử cũng tương tự như vậy. Bạn cần cố gắng kiên trì thực hiện các mục tiêu chi tiết đã được lên kế hoạch. Có như vậy thì việc xác định mục tiêu của bạn mới có ý nghĩa.

Ghi chú cẩn thận

Phương pháp ôn thi học sinh giỏi môn sử

Tham khảo đề thi

Đây được cho là cách thức giúp nhiều bạn đạt kết quả cao khi thi học sinh giỏi môn lịch sử. Bạn không nên chỉ tập trung học các kiến thức về lịch sử mà bỏ qua việc xem xét các đề thi học sinh giỏi môn lịch sử của những năm trước. Nhờ vào mạng internet đang ngày càng phổ biến, bạn có thể dễ dàng tìm thấy các đề thi học sinh giỏi môn này. Bạn nên cố gắng phân bổ thời gian ôn luyện kiến thức và thời gian giải đề hợp lí. Bằng cách giải đề thi học sinh giỏi lịch sử ở những năm trước, bạn sẽ nắm cơ bản về cấu trúc đề thi, những nội dung thường xuyên xuất hiện trong đề thi. Đồng thời, bạn cần đặt thời gian như là bạn đang thi thực sự. Việc này sẽ giúp bạn làm quen dần với áp lực thi cử. Ngoài ra, nó còn giúp bạn biết rõ được thực lực thật sự của mình có thể làm được bao nhiêu câu hỏi của đề thi học sinh giỏi môn lịch sự. Từ đó, bạn còn có thể tự bổ sung các kiến thức đó để hoàn thiện hiểu biết của mình về môn lịch sử hơn.

Chuẩn bị trước kì thi Phương pháp ôn học sinh giỏi môn lịch sử

Tư vấn tìm gia sư 24/7

Hotline hỗ trợ mọi vấn đề xung quanh việc học con em bạn .

Hỗ trợ giải đáp tư vấn tìm gia sư các môn học, các cấp học 24/7.

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VINA GIA SƯ là 1 trung tâm gia sư uy tín hàng đầu tại Việt Nam

Địa chỉ : 338/2A Tân Sơn Nhì , phường Tân Sơn Nhì , Quận Tân Phú, TP.Hồ Chí Minh

Điện thoại : 0903 108 883 – 0969 592 449

Email : [email protected]

Website : Vinagiasu.vn

@ Copyright 2010-2024 chúng tôi , all rights reserved

Loading…

Phương Pháp Học Tốt Môn Lịch Sử Mà Học Sinh Cần Biết

Vì đặc thù của Lịch sử là môn học thuộc lòng, có nhiều mốc thời gian sự kiện và trải qua hàng nghìn, hàng triệu năm nên bạn không thể nào nhớ bao quát được tất cả kiến thức chỉ sau một, hai buổi ôn tập. Thay vào đó thì đây phải là một quá trình ôn luyện thực sự.

Để việc nắm kiến thức được tốt, hãy chia nhỏ các mốc lịch sử và gắn cho nó những ghi chú quan trọng.

Lịch sử nói lên sự hình thành và phát triển của một thời đại, dân tộc, đất nước nên luôn được đánh dấu thành những mốc son, chặng đường nổi bật. Việc chia nhỏ và nắm bắt được các cột mốc lịch sử này sẽ giúp người học bao quát được mọi vấn đề.

Trong mỗi một mốc son lịch sử đều có những sự kiện nổi bật. Vì vậy, bạn hãy dành thời gian để nghiên cứu kỹ hơn về dòng chảy lịch sử của nó, về những vấn đề nổi bật phát sinh trong giai đoạn này từ đó rút ra được bài học ý nghĩa mà nó mang lại.

Học thuộc lòng bằng phương pháp viết là cách học hiệu quả để nhớ bài được lâu nhất. Cuối buổi học, bạn hãy dành chút thời gian để đối chiếu lại những gì đã ghi với những gì trong sách vở. Làm đi làm lại bước này đến khi tỉ lệ sai sót là ít nhất.

Để việc học sử được rành mạch và nhớ lâu thì nên có sự so sánh, đối chiếu những nội dung đã được học với nhau.

Bất cứ môn học nào đều có những vấn đề khiến người học phải băn khoăn. Lịch sử cũng vậy. Khi học tập và ôn thi, bạn hãy giành ra những câu hỏi, kiểu như: Vì sao lại như vậy? Kết quả ra sao? Ý nghĩa là gì? Nó có gì đặc biệt so với những kiến thức mình đã được học?…Khi đã có câu trả lời cho những vấn đề này thì chắc chắn rằng bạn sẽ nhớ bài rất lâu đấy.

Ví dụ: Tại sao lại gọi là Việt Nam hóa chiến tranh? Hay Chiến tranh đặc biệt với Việt Nam hóa chiến tranh thì có gì khác nhau?

Bạn nghĩ sao về việc sẽ học thuộc lòng từ đầu đến cuối mọi kiến thức trong sách giáo khoa Lịch sử? Bạn có tự tin về việc sẽ nhớ được hết lượng kiến thức rất rộng đó? Một cách khá đơn giản, logic giúp việc học của bạn đơn giản hơn đó là sử dụng sơ đồ tư duy.Hãy ghi lại những mốc thời gian quan trọng, sự kiện chính, tóm tắt diễn biến, nhìn vào sự sắp xếp khoa học bạn sẽ không bị bỏ sót kiến thức và có thể nhớ dễ hơn. Việc sử dụng hình ảnh của sơ đồ tư duy giúp não của chúng ta tiếp thu nhanh hơn, ghi nhớ lâu hơn.

Đây chính là một trong những phương pháp để học tốt môn lịch sử nhanh, hiệu quả mà bạn không nên bỏ qua.

Học từng phần một, học đến đâu chắc đến đấy sẽ không làm bạn tốn thời gian. Bạn có thể chia làm Lịch sử thế giới, Lịch sử Việt Nam… Sau đó hãy phân theo các mốc thời gian cụ thể để học, học phần nào xong phần đó. Điều đó giúp bạn học tốt hơn, không bỏ sót các kiến thức.

Trong mỗi phần sẽ có những bài khác nhau, hãy chọn ra những ý chính để học. Cách này sẽ giúp bạn học tốt môn lịch sử. Nó sẽ trở nên đơn giản hơn mà không mất quá nhiều thời gian của bạn.

– Bạn có thể “sáng tạo” phương pháp học lịch sử của riêng mình như học qua video, học qua tranh ảnh, thơ… để có hiệu quả cao hơn.

– Sử dụng phương pháp vẽ sơ đồ để bao quát các sự kiện lịch sử được tốt hơn.

– Nên rèn cho mình một cách ghi chép bài khoa học, cụ thể để phân biệt được đâu là ý chính, ý mở và ý quan trọng.

– Học lịch sử không đơn thuần là sự ghi nhớ, còn là tư duy, để giải thích các sự kiện tại sao lại diễn ra như thế. Mỗi sự kiện lịch sử có ý nghĩa gì, có tác động gì đối với tương lai.

– “Học vẹt”, “học tủ” để ôn thi, học một cách đối phó không phải là phương pháp mang lại hiệu quả trong môn lịch sử.

Theo chúng tôi

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Học Tốt Bộ Môn Lịch Sử Ở Trường Thcs Thông Qua Việc Sử Dụng Các Sơ Đồ Để Dạy Học

Để thực hiện được phương pháp sơ đồ hóa trong bài, giáo viên nên đặt câu hỏi dựa trên nội dung của sách giáo khoa. Nhưng giáo viên cũng nên nhận biết được mục nào, phần nào nên lập sơ đồ và ngược lại. Khi đặt câu hỏi có dùng sơ đồ, giáo viên nên đặt câu hỏi chính để thu hút các em vào đọc sách giáo khoa tìm hiểu trước. Lúc đó, giáo viên treo sơ đồ (thường là sơ đồ câm) lên trên bảng như là một gợi ý giúp học sinh định hướng trả lời. Sau khi học sinh đọc sách giáo khoa và nhìn trên sơ đồ (phối hợp kỹ năng đọc và nhìn), giáo viên bắt đầu đặt các câu hỏi gợi mở (trong đó có thể xen vào câu hỏi mang tính tư duy) để học sinh lần lượt trả lời

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài : GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT BỘ MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG CÁC SƠ ĐỒ ĐỂ DẠY HỌC I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận Việc học tập Lịch sử, cũng như học tập bất cứ bộ môn nào ở nhà trường đều nhằm cung cấp kiến thức khoa học, hình thành thế giới quan khoa học, phẩm chất đạo đức chính trị cho học sinh. Trong những năm qua khi thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, việc đổi mới phương pháp dạy học đã được nhiều người quan tâm và khẳng định vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học trong việc nâng cao chất lượng dạy học.. Bộ môn Lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ sở của khoa học lịch sử, nên đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ mà còn phải hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống. Cho nên, cùng với các môn học khác, việc học tập Lịch sử đòi hỏi phát triển tư duy, thông minh, sáng tạo. Đã có quan niệm sai lầm cho rằng học Lịch sử chỉ cần học thuộc lòng sách giáo khoa, ghi nhớ các sự kiện - hiện tượng lịch sử là đạt, không cần phải tư duy - động não, không có bài tập thực hành, Đây là một trong những nguyên nhân làm suy giảm chất lượng môn học. Điều quan trọng nhất trong trong việc đổi mới phương pháp dạy học là thầy dạy thế nào để học sinh động não, làm thay đổi chất lượng hoạt động trí tuệ của học sinh, làm phát triển trí thông minh, trí sáng tạo của các em. Hiện nay, trong quá trình dạy học trên lớp, hoạt động trí tuệ chủ yếu của học sinh là ghi nhớ và tái hiện. Ở nhà, học sinh tự học dưới dạng học bài và làm bàinhưng về căn bản đã được hướng dẫn ở lớp, nên hoạt động trí tuệ của học sinh vẫn nặng về rèn luyện trí nhớ và khả năng tái hiện. Như vậy, rèn luyện năng lực tư duy, khả năng tưởng tượng, sáng tạo phát triển trí tuệ, trí thông minhcủa học sinh nói chung, được xem là nhiệm vụ chủ yếu, nhiệm vụ quan trọng nhất của quá trình dạy học hiện đại. Vì vậy, then chốt của việc đổi mới phương pháp dạy học là điều chỉnh mối quan hệ giữa tái hiện và sáng tạo, đến việc tăng cường các phương pháp sáng tạo nhằm đổi mới tính chất hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học. 2. Cơ sở thực tiễn : Dạy học Lịch sử là dạy những sự gì đã xảy ra trong quá khứ, mỗi bài học đều có rất nhiều sự kiện và khái niệm lịch sử học sinh phải nhớ và hiểu. Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kỹ năng tư duy. Học sinh chỉ học bài nào biết bài đấy, nhớ các kiến thức lịch sử một cách rời rạc và rất nhanh quên. Ngoài ra, do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn lịch sử trong đời sống xã hội. Một số học sinh và phụ huynh có thái độ xem thường bộ môn lịch sử, coi đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần đầu tư công sức nhiều, dẫn đến hậu quả học sinh không nắm đựơc những sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến trong thực tế ở nhiều trường. Trong điều kiện hiện nay, việc giảng dạy và học tập bộ môn lịch sử vẫn còn nhiều bất cập như: Chương trình sách giáo khoa khá nặng nề, quá tải về kết cấu các nội dung, về thời lượng của chương trình. Chương trình còn nặng về lí thuyết mà rất ít số tiết thực hành và ôn tập. Trong mỗi bài dạy lại có quá nhiều sự kiện làm cho học sinh ít hứng thú học lịch sử vì khó nhớ , khó thuộc Qua hai năm giảng dạy lịch sử tại trường THCS, bản thân tôi luôn trăn trở để tìm ra những phương pháp giúp học sinh hứng thú học tập bộ môn hơn và đạt kết quả cao hơn . Một trong những phương pháp có hiệu quả tôi đã thực hiện gây hứng thú học tập cho học sinh là sử dụng các sơ đồ để dạy và củng cố bài học. Trên cơ sở đó, bản thân tôi đã chọn đề tài nhỏ về đổi mới phương pháp dạy học: Giúp học sinh học tốt bộ môn Lịch sử ở trường THCS thông qua việc sử dụng các sơ đồ để dạy học II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Thực trạng của vấn đề Trong những năm qua, mặc dù chương trình và sách giáo khoa đã có thay đổi, nhưng lượng kiến thức trong mỗi bài học vẫn rất nhiều. Đa số học sinh không thể nhớ hết sự kiện lịch sử nếu không hiểu bài. Vì thế để có thể giúp học sinh hiểu bài nhanh chóng giáo viên có thể sử dụng các sơ đồ có sẵn trong sách giáo khoa hoặc tự làm để cụ thể hóa các sự kiện lịch sử và hình thành khái niệm lịch sử cho học sinh. Sơ đồ là một loại đồ dùng trực quan quy ước, nếu sử dụng tốt sẽ đem lại hiệu quả cao. 2. Các biện pháp Trong dạy học lịch sử, do không trực tiếp quan sát các sự kiện nên phương pháp trực quan góp phần quan trọng trong việc tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các sự kiện nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Đồ dùng trực quan có nhiều loại trong đó sơ đồ thuộc loại đồ dùng quy ước. Nhiều bài dạy lịch sử có rất nhiều thông tin và sự kiện học sinh không thể nhớ hết, nhưng GV hệ thống bằng sơ đồ thì bài học sẽ trở nên ngắn gọn và dễ hiểu. Qua thực tế giảng dạy hai năm bản thân xin đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ trong việc sử dụng các sơ đồ để dạy học bộ môn lịch sử. Trước tiên, chúng ta phải phân loại sơ đồ trong dạy học lịch sử. Sơ đồ lịch sử với dạng chung là "rẽ nhánh" thì có nhiều loại: + Sơ đồ "đường": loại này rẽ từ "ô chính" sang các "ô phụ" bằng các đường nối hoặc mũi tên. Sơ đồ này có hai kiểu là: sơ đồ có sẵn trong sách giáo khoa và sơ đồ không có sẵn trong sách giáo khoa. + Sơ đồ tư duy: loại sơ đồ này cũng có ô và các đường nối, nhưng chúng được làm mềm mại bằng các hình bầu dục, các đường nối cong cong (có đậm nhạt khác nhau) và có màu sắc. Loại này được dùng phổ biến trong các bài giảng điện tử của giáo viên khi dự giờ, khi tham dự các hội thi của giáo viên Về cách sử dụng, dù ở loại nào đi chăng nữa thì mỗi sơ đồ đều được sử dụng theo trình tự các bước sau: Bước 1: Học sinh đọc kênh chữ ở sách giáo khoa Bước 2: Cho học sinh hoạt động theo nhóm, dựa trên thông tin của kênh chữ để vẽ sơ đồ theo kênh chữ của sách giáo khoa Bước 3: Đại diện các nhóm vẽ sơ đồ trên bảng và trình bày sơ đồ vừa vẽ bằng ngôn ngữ nói. Bước 4: Học sinh nhận xét, bổ sung hoàn chỉnh phần sơ đồ, giáo viên kết luận, đánh giá hoạt động của học sinh. Bước 5: HS quan sát tự vẽ sơ đồ vào vở. Đó là năm bước cần thực hiện khi dạy học bằng sơ đồ. Tuy nhiên để làm rõ hơn, người viết lưu ý: + Khi thiết kế sơ đồ, cần lưu ý các đề mục của bài. Theo kinh nghiệm giảng dạy của tôi trong 2 năm, thường các bài về vương triều phong kiến (lớp 6, 7) và các chế độ xã hội (tư bản, vô sản) thì các đề mục được giáo viên khái quát bằng sơ đồ cho học sinh dễ hình dung. Đơn cử kể ra một số đề mục cơ bản mà giáo viên thường dùng sơ đồ: + Chính trị (bộ máy nhà nước) + Kinh tế + Xã hội + Văn hóa + Chiến tranh VUA ĐẠI THẦN 24 LỘ, PHỦ QUAN VÕ QUAN VĂN HUYỆN HƯƠNG, XÃ HƯƠNG, XÃ Để thực hiện được phương pháp sơ đồ hóa trong bài, giáo viên nên đặt câu hỏi dựa trên nội dung của sách giáo khoa. Nhưng giáo viên cũng nên nhận biết được mục nào, phần nào nên lập sơ đồ và ngược lại. Khi đặt câu hỏi có dùng sơ đồ, giáo viên nên đặt câu hỏi chính để thu hút các em vào đọc sách giáo khoa tìm hiểu trước. Lúc đó, giáo viên treo sơ đồ (thường là sơ đồ câm) lên trên bảng như là một gợi ý giúp học sinh định hướng trả lời. Sau khi học sinh đọc sách giáo khoa và nhìn trên sơ đồ (phối hợp kỹ năng đọc và nhìn), giáo viên bắt đầu đặt các câu hỏi gợi mở (trong đó có thể xen vào câu hỏi mang tính tư duy) để học sinh lần lượt trả lời + Sử dụng sơ đồ. Với cách làm truyền thống là giáo viên điền thẳng câu trả lời vào sơ đồ rồi cho cả lớp kẻ sơ đồ đó vào vở, nhưng với hiện nay thì không làm như thế. Giáo viên vừa đặt câu hỏi cho học sinh trả lời. Khi trả lời, học sinh có thể tự lên bẳng điền câu trả lời vào sơ đồ luôn. Như vậy nó kích thích được sự chủ động của học sinh trong học tập. Với lưu ý này, giáo viên có thể làm "cuộc thi tiếp sức": chia lớp thành các nhóm. Giáo viên đưa ra nhiều câu hỏi, học sinh ở các nhóm sẽ đọc nhanh sách giáo khoa, lấy thông tin và điền lên sơ đồ. Nhóm nào điền nhanh và chính xác thì thắng cuộc. Điền thông tin vào chắc chắn có sai sót. Giáo viên có thể mời bất kỳ một số thành viên trong nhóm sửa chữa sơ đồ trên bảng. Cho cá nhân các nhóm xung phong sửa chữa. Nhóm nào có nhiều người sửa mà đúng nhất (trừ trường hợp có vài sai sót do học sinh không biết thì giáo viên sửa luôn) thì thắng cuộc. + hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ vào vở. Thông thường việc này rất mất thời gian, nên có thể trong khi làm bước 2 thì giáo viên yêu cầu học sinh làm luôn bước 3. Học sinh nhìn và tự vẽ đươc (sơ đồ tư duy phải có hoa tay thì mới đẹp). Trong khi vẽ, giáo viên yêu cầu học sinh tô đậm các ý chính (hay các đề mục chính) buộc học sinh phải ghi nhớ: Mục chính là cái gốc của cây, các mục nhỏ là ngọn cây. Làm chắc gốc thì ngọn mới dài và cao, vươn xa. 3. Một số ví dụ minh họa các kiểu sơ đồ trong bài viết Ở mục này, người viết dùng hai kiểu sơ đồ (tựu chung thì nó có dạng rẽ nhánh) trong một số bài cụ thể: Ví dụ 1 : Khi dạy bài 12: Nước Văn Lang. Giáo viên giảng theo các mục trong bài và thuộc các nhận biết ở trên để phân biệt: mục nào cần dùng sơ đồ, mục nào không cần dùng sơ đồ. Giảng tới mục 3, GV đặt ra câu hỏi và hướng dẫn học sinh lớp 6 trả lời. Trong lúc học sinh suy nghĩ, GV có thể vẽ ra sơ đồ bộ máy nhà nước luôn và sơ đồ này là sơ đồ câm; đồng thời đặt ra các câu hỏi mở để học sinh tự điền vào sơ đồ (có hướng dẫn). Sau khi hoàn thành, GV có sơ đồ sau: Nhìn vào sơ đồ, học sinh lớp 6 sẽ thấy rõ các thành phần của một nhà nước sơ khai đầu tiên của nước ta: Vua - Quan lại (Lạc hầu, Lạc tướng) - Bồ chính (già làng) và ra kết luận cuối cùng để chốt ý cho cả mục. Khi dạy bài 2- Lịch sử lớp 7 Bài "Sự suy vong của chế dộ phong kiến và sự hình thành chủ nghĩa tư bản ở Châu Âu" GV giảng đến phần sự hình thành chủ nghĩa tư bản ở Châu Âu có thể giúp học sinh từ những kênh chữ trong sách giáo khoa vẽ sơ đồ về sự hình thành 2 giai cấp mới trong xã hội phong kiến, sau đó GV kết luận bằng sơ đồ của mình như sau : Chủ xưởng, chủ đồn điền, thương nhân giàu có. GIAI CẤP TƯ SẢN GIAI CẤP VÔ SẢN Nông nô và nô lệ da đen. Nhìn vào sơ đồ học sinh sẽ dễ dàng nhận thấy 2 giai cấp mới là Tư sản và vô sản được hình thành từ những tầng lớp nào trong xã hội phong kiến bằng một sơ đồ trực quan rất dễ nhớ và dễ hiểu.. Giai cấp tư sản được hình thành từ các chủ xưởng, chủ đồn điền, thương nhân giàu có. Còn giai cấp vô sản được hình thành từ các nông nô và nô lệ da đen. Sự hình thành 2 giai cấp mới là cơ sở dẫn đến sự hình thành mâu thuẫn mới và một xã hội mới thay cho xã hội phong kiến . Ví dụ 2: Khi dạy bài 4- Lịch sử 7: TRUNG QUỐC THỜI PHONG KIẾN Đây là dạng bài không có sơ đồ được vẽ sẵn trong sách giáo khoa, không yêu cầu học sinh kĩ năng vẽ sơ đồ, mục tiêu của bài học làm cho học sinh hiểu rõ được sự phân hoá và hình thành của các tầng lớp xã hội dưới sự tác động của các hình thức sản xuất mới, nhưng để đạt được mục đích này giáo viên lại cần thiết phải sử dụng đến phương tiện trực quan có hiệu quả nhất đó là sơ đồ. Bước 1: Cho học sinh đọc kênh chữ ở sách giáo khoa. Bước 2: GV treo sơ đồ phân hoá xã hội phong kiến trên bảng đen. ĐỊA CHỦ Quý tộc Nông dân giàu Nông dân tự canh Nông dân công xã NÔNG DÂN LĨNH CANH Nông dân nghèo SƠ ĐỒ PHÂN HOÁ XÃ HỘI PHONG KIẾN TRUNG QUỐC (TK III TCN) Bước 3: Học sinh dựa vào sơ đồ hoạt động nhóm trả lời các câu hỏi sau: ?Xã hội phong kiến Trung Quốc có những giai cấp nào? Các giai cấp này được hình thành như thế nào? Bước 4: Đại diện học sinh trong nhóm lên bảng dựa vào sơ đồ để trả lời. Bước 5: HS nhận xét, bổ sung. GV kết luận, HS tự ghi kiến thức vào vở Từ việc tiếp nhận thông tin bằng kênh chữ giáo viên đã tăng cường tính cụ thể, tính hình ảnh của các thông tin về các hiện tượng xã hội bằng sơ đồ giúp học sinh dễ tiếp thu nội dung, bản chất hiện tượng xã hội. Sơ đồ trên giúp học sinh hiểu rõ nội dung và những đặc trưng cơ bản, sự phân biệt giai cấp trong xã hội Trung Quốc vào thế kỉ III TCN.Trong quá trình sử dụng sơ đồ phân hoá xã hội giáo viên đã làm cho học sinh thấy rõ mối quan hệ của các giai cấp xã hội bằng các đường dẫn có mũi tên trong sơ đồ: Địa chủ có nguồn gốc từ tầng lớp quý tộc và nông dân giàu có, họ là những người có nhiều ruộng đất. Nông dân lĩnh canh là những người nông dân nghèo không có ruộng đất, phải làm thuê cho địa chủ và nộp tô cho địa chủ nên khổ cực hơn cả nông dân tự canh. Qua cách phân tích dẫn dắt vấn đề giáo viên đã hình thành khái niệm và giúp học sinh có thể hiểu sâu nội dung khái niệm "địa chủ", "nông dân lĩnh canh", nắm được mối quan hệ giữa địa chủ và nông dân lĩnh canh- hai giai cấp cơ bản của xã hội phong kiến phương Đông. Ví dụ 3: Khi dạy bài 10- Lịch sử 7 : NHÀ LÝ ĐẦY MẠNH CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC Đây là dạng bài không có sơ đồ được vẽ sẵn ở sách giáo khoa nhưng qua phần kênh chữ giáo viên yêu cầu học sinh kĩ năng vẽ sơ đồ bộ máy chính quyền ở trung ương và địa phương thời Lý, yêu cầu này được đưa vào câu hỏi cuối mục 1 của sách giáo khoa (tr 36): Em hãy vẽ sơ đồ bộ máy chính quyền ở trung ương và địa phương thời Lý. Trên cơ sở kênh chữ trong sách giáo khoa và các bước nêu trên, các em có thể vẽ sơ đồ theo 2 dạng như sau: *Nhóm 1:Sơ đồ hai nhánh: VUA ĐẠI THẦN 24 LỘ, PHỦ QUAN VÕ QUAN VĂN HUYỆN HƯƠNG, XÃ HƯƠNG, XÃ VUA ĐẠI THẦN *Nhóm 2:Sơ đồ rời: +Chính quyền trung ương: QUAN VĂN QUAN VÕ +Chính quyền địa phương: 24 LỘ, PHỦ HUYỆN HƯƠNG, XÃ HƯƠNG, XÃ Cách làm này đã giúp các em rèn luyện kĩ năng vẽ sơ đồ dựa trên kênh chữ trong sách giáo khoa, kích thích tư duy và hứng thú học tập cho học sinh đồng thời các em sẽ hiểu bài và nhớ bài lâu hơn. Ví dụ 4: Khi dạy bài 30- Lịch sử lớp 9 : " Hoàn thành giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước"- tiết 2. Giáo viên có thể củng cố kết thúc bài học bằng sơ đồ sau : TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975 CHIẾN DỊCH HUẾ-ĐÀ NẴNG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH Nhưng trên thực tế, với hoa tay của học sinh thì việc thực hiện sơ đồ có kẻ ô, rẽ nhánh ở các đề mục là khả thi; nhưng trên thực tế thì sơ đồ này vẽ ra mất nhiều thời gian - nhất là ở phần củng cố bài học. Trước đây bản thân tôi có nhiều lần dùng sơ đồ có kẻ ô, rẽ nhánh ở các đề mục này, nhưng thất bại vì nó rườm rà, cách làm lại gây mất thời gian. Nếu dạy kiểu truyền thống, giáo viên mà không chuẩn bị sơ đồ mà có thể vẽ thẳng lên bảng. xem ra mất nhiều thời gian. Vẽ không khéo sẽ bị người dự giờ "góp ý" riêng. Sơ đồ về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (học sinh vẽ) Sơ đồ tư duy về phong trào Tây Sơn (học sinh tự vẽ) Kết quả : III. KẾT LUẬN Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ hiểu sâu những kiến thức lịch sử. Chính vì thế để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử, người giáo viên phải luôn sử dụng tốt các phương dạy học lịch sử một cách nhuần nhuyễn, trong những phương pháp đó việc sử dụng sơ đồ cũng có tác dụng rất lớn . Sơ đồ chính là một đồ dùng trực quan rất sinh động thể hiện sự sáng tạo cao của người giáo viên. Trong những năm qua, công tác thiết bị trường học đã có nhiều thay đổi và đạt những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên những đồ dùng dạy học được trang cấp chưa đủ để phục vụ cho nội dung chương trình sách giáo khoa...chính vì thế phong trào tự làm đồ dùng dạy học là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình dạy học. Việc tự làm sơ đồ dạy học được đề cập đến trong đề tài này mang ý nghĩa thể hiện sự sáng tạo của giáo viên nhằm giải quyết nhu cầu thực tiễn của giáo viên để thực hiện đổi mới phương pháp phù hợp với khả năng sư phạm của mình, với đặc điểm của lớp học, người học và môn học. Đồ dùng dạy học này, do chính giáo viên thiết kế cho phù hợp từng bài dạy giúp học sinh lĩnh hội kiến thức nhanh chóng và hiệu quả. Với việc sơ đồ hóa các kiến thức trong mỗi bài học giáo viên có thể phần nào tạo hứng thú học tập cho học sinh và nâng cao chất lượng học tập bộ môn lịch sử trong tình hình hiện nay. Quận 12, ngày 14/11/2024 Người viết Thái Nguyễn Đức Minh Quân Nhận xét của Tổ chuyên môn Nhận xét của Ban Giám hiệu

Chia Sẻ Một Vài Kinh Nghiệm Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi

I. Các bước bồi dưỡng học sinh giỏi:

* Bước 1: Chọn học sinh

Tùy đặc trưng từng môn học mà có những yêu cầu khác nhau, tuy nhiên có một số yêu tố học sinh cần có là:

– Quan trọng nhất mà môn nào cũng phải có là lòng yêu thích môn học

– Chữ nghĩa rõ ràng, sạch đẹp

– Có tư duy tốt, chuyên cần trong học tập

– Tự giác trong học tập( yếu tố này có thể ban đầu học sinh chưa có thì giáo viên sẽ hình thành cho học sinh trong quá trình giảng dạy).

* Bước 2: Tiến trình dạy-học

– Dạy theo chuyên đề

– Sau mỗi chuyên đề cần kiểm tra để biết được học sinh học ở mức độ nào, biết đến đâu.

– Hình thức kiểm tra: nên đa dạng, phong phú

+ Trước tiên là kiểm tra vấn đáp: GV-HS, HS-HS theo cặp đôi

+ Kiểm tra viết để đánh giá mức độ chính xác trong kiến thức của HS khi trình bày vì thực tế có nhiều HS nói thì đúng và đủ ý nhưng khi trình bày hay tâm lí và mắc lỗi (bản lĩnh thi đấu chưa vững vàng)

Bằng hình thức này giáo viên sẽ phát hiện và giúp HS khắc phục hạn chế.

* Bước 3: Liên kết, móc nối các chuyên đề với nhau

* Bước 4: Sưu tập đề, các dạng bài tập và câu hỏi theo chuyên đề.

* Bước 5: Làm đề kiểm tra (làm nhiều đề) à Chấm, chữa bài có lưu kết quả các lần kiểm tra.

* Bước 6: Trên cơ sở các bài kiểm tra đã lưu kết hợp với đánh giá thường xuyên hàng ngày để chọn học sinh đi thi

– Đảm bảo về kiến thức

– Vững vàng về tâm lí

II. Hình thành động cơ, kỹ năng học tập bộ môn

1. Về phía giáo viên

– Gây hứng thú học tập bộ môn ngay trong quá trình lên lớp theo thời khóa biểu

Thường xuyên sưu tập đề của đồng nghiệp, internet. Chuẩn bị nội dung chu đáo trước khi lên lớp bồi dưỡng.

– Hình thành cho HS tính tự giác tong học tập: theo quan điểm “Từ một người chăm chỉ làm việc và biết nhìn vào ưu điểm của người khác, không săm soi yếu điểm của họ sẽ tỏa ra một thứ năng lượng hấp dẫn những người xung quanh”

Vì thế người GV ngay từ những buổi đầu lên lớp phải thể hiện sự nghiêm túc, nhiệt tình trong công việc, giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng cho HS tạo thói quen đúng giờ giấc, giáo dục động cơ học tập. Duy trì việc học tập thường xuyên tránh học bập bõm, tuần nào theo lịch chung mất buổi dạy thì phai lên kế hoạch dạy bù. Từ đó HS sẽ có thái độ nghiêm túc và tự giác trong học tập.

– Thường xuyên kiểm tra, đánh giá và phân loại đúng đối tượng HS để lựa chọn chính xác HS đi thi.

– Khi đến giai đến giai đoạn nước rút phải động viên HS chuẩn bị cả về tâm lý và sức khỏe cho HS để đi thi tốt nhất.

+ Chế độ dinh dưỡng như thế nào để đảm bảo sức khỏe.

+ Dạy HS một vài kinh nghiệm lấy hơi, giữ bình tĩnh khi thi, tránh tình trạng HS lo lắng, hồi hộp và run khi viết bài không tốt ảnh hưởng hiệu quả bài làm

2. Về phía học sinh

– Rèn kỹ năng viết, trình bày khoa học, logic.

– Tự lên mạng sưu tầm tài liệu, tham khảo

– Mạnh dạn trao đổi, hởi bài GV

– Không giới hạn không gian học tập: Ở trường học, ở trong lớp học, học ngoài ghế đá ngoài sân trường, có khi lại kết hợp thể dục (đi bộ quanh san trường- học bài)

– Không giới hạn hình thức học bài:

+ Học một mình: kết hợp đọc, viết để nhớ lâu

+ Học cặp đôi

+ Ôn bài vào sáng sớm(hoặc có khi vừa nghe nhạc vừa học thuộc bài tùy vào từng học sinh…)

                                                                                                             Tác giả: Phạm Thị Hồng Hạnh

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Phương Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Lịch Sử Ở Trường Thcs trên website Globaltraining.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!