Bi Quyet Bat Lo De Mien Bac / 2023 / Top 17 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Globaltraining.edu.vn

7 Bí Quyết Nói Chuyện Thành Công 7 Bi Quyet De Noi Chuyen Thanh Cong Ppt / 2023

7 BÍ QUYẾT ĐỂ NÓI CHUYỆN THÀNH CÔNG TRƯỚC CÔNG CHÚNG Trung Tâm Thanh Thiếu Niên Miền Nam8/2009

Bạn nghĩ gì về những phát biểu, thuyết trình của chính mình trong thời gian vừa qua? Nội dungPhát âm chuẩnNói có dàn ýNói có lý lẽNói có dẫn chứngNói dí dỏmSử dụng ngôn từTương tác với người ngheThực hành:Phát biểu ý kiến: Nếu được phép lựa chọn, kiếp sau, bạn muốn mình là đàn ông (nam) hay đàn bà (nữ)? Tại sao?hát âm chuẩnPhát âm chuẩn mới đúngPhát âm chuẩn mới sangChuyện phim “Yểu điệu thục nữ”Lãnh đạo phát biểu trước công chúngKể cả phát âm tiếng nước ngoàiChuẩn nào?Chuẩn Hà Nội hoặc chuẩn Sài GònKhông có một ai phát âm chuẩn tuyệt đốiPhát âm chuẩnNên nói có dàn ýTại sao phải nói có dàn ý?2 cách tiếp nhận thông tinTheo thời gianTheo không gianDàn ý:Một bài nói hoàn chỉnh:.Thường gồm có 3 phần (nhập đề – thân bài – kết luận).Sử dụng mô hình xương cá để phát triển dàn ý

Nên nói có dàn ý2. Một phát biểu ngắn (thường không được chuẩn bị trước, chỉ nói vài phút): .Đừng xem thường những phát biểu ngắn..Công dụng của sổ tay bỏ túi.Cần có một số lượng ý cụ thể (không quá 5 ý) : Kỹ thuật 1: n là…Kỹ thuật 2: công thức hóa(số hóa, mẫu tự hóa, hình ảnh hóa)Nên nói có dàn ýKhông nên nói nếu không có gì để nóiKẻ thù của giao tiếp bằng lời có hiệu quả: học thuộc lòng bài nói chuyện!Nên nói ngắn gọnNên nói có lý lẽSức mạnh của lập luậnChuyện đời vua Càn LongChuyện xin hút thuốc láThế nào là lập luận? Xét các phát ngôn sau đây(1) Tôi không thể hiểu được khi nghe người ta nói rằng không được phép hút ở những nơi công cộng. Tôi nghĩ, mọi người đều được phép hút thuốc lá ở bất kỳ nơi nào.

(2) Mọi người đều được phép hút thuốc ở bất kỳ nơi nào. Hút thuốc không trái luật, và hàng triệu người cảm thấy thích thú việc hút thuốc.(3) Các công ty truyền hình vệ tinh đang trả giá cao để giành quyền điều hành phát hình trực tiếp các chương trình thể thao. Đa số người ta không đăng ký sử dụng truyền hình vệ tinh dài hạn. Công nghệ truyền hình đang ngày càng thay đổi nhanh chóng.(4) Những ai đến sở thú đều muốn xem các loài động vật. Những loài động vật nguy hiểm được trưng bày, cho dù có đẹp cỡ nào cũng chẳng bao giờ có thể làm cho chúng ta hứng thú bằng những con sư tử thật, những con voi thật… Các sở thú cần tập trung vào việc nuôi nhiều động vật sống chứ không phải là trưng bày thú nhồi bông.Thế nào là lập luận? .Có ít nhất một lý lẽ .Đi đến một kết luận rõ ràng .Nhằm mục đích thuyết phụcThực hànhTrong một cuộc hội thảo được tổ chức tại hội trại “VN tổ quốc mến yêu” (9/1995), kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9, một bạn SV đã phát biểu: “Mắc mớ gì cha ông ta phải làm cuộc CMT8 cho tốn xương tốn máu. Nhiều quốc gia khác trên thế giới không cần chiến đấu mà đến nay vẫn được trao trả độc lập. Thậm chí người ta còn có thời gian hòa bình để phát triển kinh tế”.Bạn sẽ nói gì về ý kiến của bạn SV đó?Nên nói có dẫn chứngDẫn chứng làm cho lý lẽ trở nên sinh động, cụ thể, có hình ảnhNguồn:Danh ngôn: vừa là lý lẽ, vừa là dẫn chứngThơ văn, sách báo, nhật ký, thư từ…Cuộc sống thực tếThực hànhHãy kể một câu chuyện vuiNên nói dí dỏmNụ cười là khoảng cách ngắn nhất giữa con người!Tiếng cười có thể gây chú ý, tạo ấn tượngTiếng cười là mười thang thuốc bổNên nói dí dỏmNói dí dỏm để:Gây tình cảm với mọi ngườiThay đổi nhịp điệu, không khí, xử lý tình huống trong một buổi nói chuyệnGây chú ý, tạo ấn tượng

Tương tác với người ngheXưng hô:Từ xưng hô trong tiếng Việt rất phức tạpXưng hô thể hiện thái độNguyên tắc:Tự tinTôn trọng người khácTương tác với người ngheNgôn ngữ ngoại hìnhMắt, miệng, mặtTrang phụcTư thế (đứng, đi, ngồi, tay chân)Tiếp xúc cơ thể Khoảng cách giao tiếp Tương tác với người ngheKhích động người ngheĐặt câu hỏiGán ý tưởngMời cùng hoạt động Tương tác với người ngheXử lý câu hỏi của người ngheMời mọi người đặt câu hỏiLàm rõ câu hỏi trước khi trả lờiNhững trường hợp đặc biệt:Không trả lời ngayBiểu lộ không đồng tìnhTránh trả lờiTự rèn luyện:

Đọc sáchTập làm thơ lục bát/câu đối/ ô chữ/ sử dụng từ điển (để nâng cao vốn từ cá nhân)Tập ứng khẩu/kể chuyệnĐi dạy họcLàm MCThi nói (thuyết trình/hùng biện)Dịch, viết báo/nhật ký/đoản văn/ truyện ngắn

CHÚC CÁC BẠN THÀNH CÔNG!

Bi Quyet Lam Thong Mach Mau :: Bí Quyết Làm Thông Mạch Máu :: Tin Lợi Ích :: Memaria / 2023

LTS: Chúng ta cứ tham khảo nhưng vẫn luôn phải tìm chữa trị qua Bác sĩ Y Khoa và bịnh viện.

Những ai sắp bị đi thông tim hay những người bị nhói tim làm uống xem ra sao rồi phổ biến rộng cho bà con.Chắc chắng chẳng có hại gì đâu làm thử đi.Tôi sẽ làm và uống.

Nguyên liệu cần dùng như sau: 1 ly nước cốt chanh 1 ly nước cốt gừng 1 ly nước cốt tỏi 1 ly giấm táo Cách làm: 1. Tỏi bóc vỏ, gừng gọt vỏ cắt miếng nhỏ, cho vào máy ép trái cây ép lấy nước, hoặc là cho vào máy xay sinh tố xay nhuyễn, sau đó dùng vải lọc lọc lấy nước cốt.

2. Đặt nồi nước cốt tỏi và gừng lên bếp, thêm nước cốt chanh và giấm, để lửa lớn nấu sôi, sau đó vặn lửa nhỏ lại nấu khoảng nửa tiếng, không cần đậy nắp, để cho nước bốc hơi lên, còn lại khoảng phân nửa nước cốt là được.

3. Sau khi nguội, thêm mật ông vào khuấy đều, có thể cần nhiều mật ong, chủ yếu là để cho nước cốt dễ uống.

4. Đem thành phẩm đựng vào trong bình thủy tinh có nắp, bỏ vào tủ lạnh.

Cách uống:

Mỗi ngày uống một muỗng trước bữa ăn sáng. Phần lớn người có thể trị tận gốc bệnh tim mạch. Cũng có thể làm thức uống, phòng chống bệnh tim mạch và cao huyết áp, phòng ngừa cảm cúm…

Sau khi uống một tháng đến bệnh viện kiểm tra lại, sẽ phát hiện mạch máu sạch sẽ, chỗ tắc nghẽn đã được thông hoàn toàn rồi.

1. Xà Lách Xoong : Chống ung thư kỳ diệu

2- Ích lợi của đậu phộng

Loại rau quý Xà lách xoong : Chống ung thư kỳ diệu

Theo nghiên cứu được công bố mới đây trên tạp chí The British Journal of Nurition (Anh), ăn khoảng 100g cải xoong mỗi ngày có thể ngăn ngừa ung thư vú và nhiều bệnh ung thư khác. Cải xoong còn gọi là xà lách xoong, thủy điều thái, tây dương thái…, có tên khoa học: Nasturtium officinale hoặc Nasturtium microphyllum, là một loại thực vật thủy sinh hay bán thủy sinh có mùi hăng, cay.

Cải xoong là một loại rau ăn rất tốt dùng để nấu canh hay xào hoặc chế biến món gỏi rất ngon và tốt cho sức khỏe bởi trong rau cải xoong chứa hàm lượng vitamin C dồi dào, lại có vitamin A, B1, B2 và nhiều chất khoáng, chất xơ.

Theo Đông y, cải xoong tính hàn, vị hơi đắng và hắc có tác dụng lợi tiểu, giúp tiêu hóa tốt, giải độc…dùng chữa bí tiểu, tàn nhang, hỗ trợ điều trị ho lao, đái tháo đường, giúp phòng bệnh bướu cổ, chống lão hóa…

Ngoài ra, cải xoog còn giúp chống oxy hóa, chống độc, làm tăng sức đề kháng cho cơ thể, chống hiện tượng lão hoá bệnh lý, giữ gìn nét trẻ trung và nhất là dùng để chữa thận, mật có sỏi.

Cải xoong có tác dụng khai vị, bổ, kích thích tiêu hóa, cung cấp chất khoáng cho cơ thể, chống thiếu máu , chống bệnh hoại huyết, lọc máu, lợi tiểu, giảm đường huyết, trị ho. Nó còn làm ra mồ hôi, trị giun và giải độc nicotin.

Tác dụng chống ung thư của cải xoong

Một công dụng lớn của cải xoong rất ít người biết đến là khả năng chống lại bệnh ung thư.

Lợi ích chống ung thư của cải xoong có được là nhờ khả năng làm tăng mức độ chất kháng oxy hóa trong máu và bảo vệ DNA, chống lại những tổn thương do các chất độc hại gây ra.

Các bằng chứng thực nghiệm và lâm sàng cho thấy cải xoong có thể làm giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới, ung thư ruột kết, ung thư cổ tử cung, ung thư vú ở phụ nữ, đồng thời ngăn chặn sự khuếch tán (di căn) các tế bào ung thư sang các cơ quan khác.

Cơ chế này có được chính nhờ glucosinolates, một hoạt chất sinh học thực vật (phytochemical) có trong cải xoong. Khi chúng ta nhai chúng trong miệng chất này sẽ bị thủy phân để sản xuất isothiocynates – hoạt chất có tác dụng chống ung thư mạnh mẽ.

Cải xoong cũng là nguồn dinh dưỡng đặt biệt phong phú với hoạt chất nasturtiin, tiền thân của isothiocyanate phennethyl.

Theo nghiên cứu được công bố mới đây trên tạp chí The British Journal of Nurition (Anh), ăn khoảng 100g cải xoong mỗi ngày có thể ngăn ngừa ung thư vú cũng như suy giảm nguy cơ ung thư nói chung.

Theo tiến sĩ Nicholas Perricone, cải xoong chứa nhiều vitamin, sắt, canxi, ma-giê, mangan, kẽm và kali hơn so với bông cải xanh, táo và cà chua.

Những người đàn ông và phụ nữ trong lứa tuổi 60, một nửa trong số đó thói quen hút thuốc lá, tham gia nghiên cứu này bằng cách ăn thêm khoảng 100g cải xoong mỗi ngày bên cạnh chế độ ăn uống bình thường liên tục trong tám tuần.

Kết quả cho thấy, có sự suy giảm tổn thương DNA của tế bào máu (sự thiệt hại DNA trong tế bào máu là một chỉ số cho biết có nguy cơ dễ mắc bệnh ung thư). Thêm vào đó, hàm lượng vitamin C trong lá cải xoong cao càng làm gia tăng hiệu quả chống ung thư.

Đồng thời các hoạt chất trong cải xoong cũng gây ra hiệu ứng apoptosis (giết tế bào ung thư). Tương tự như vậy, chiết xuất từ cải xoong thô cũng là “vệ sĩ” cho các tế bào ung thư tuyến tiền liệt và ruột kết nhờ ngăn chặn được sự di căn của các tế bào ác tính.

Hợp chất isothiocyanate từ cải xoong gây ức chế hoạt động của men metalloproteinase-9 (một loại enzyme có khả năng thúc đẩy sự phát triển của các khối u) nhờ đó giúp ngăn chặn sự xâm lấn của các tế bào ung thư nhất là ung thư vú.

Lưu ý: Cải xoong tuy rất tốt nhưng khi chế biến các món trộn, gỏi cần phải rửa sạch rau nhiều lần với nước sạch, muối, thuốc tím để diệt vi khuẩn, ký sinh trùng bám vào rau.

Khuyen Phat Bo De Tam / 2023

BÀI VĂN KHUYẾN PHÁT BỒ ÐỀ TÂM

Đại Sư Thật Hiền Soạn

Hòa Thượng Tuyên Hóa Lược Giảng

V

ăn Khuyến Phát Bồ Ðề Tâm: Khuyến phát, là chúng ta vốn chưa phát tâm, nay Ðại sư Tỉnh Am dùng ngôn ngữ vô cùng hợp lý, hợp pháp, để khuyên nhắc khuyến khích chúng ta, khiến chúng ta phát tâm. Phát tâm gì ? Chính là phát tâm Bồ đề.

Thế nào là tâm Bồ đề ? Tâm Bồ đề là tâm rõ ràng sáng suốt, tâm bỏ mê quay về giác, là tâm bỏ tà quy chánh, là tâm phân biệt rõ việc thị phi, cũng chính là tâm không điên đảo, là chân tâm. Trong chân tâm, không có các tướng  ủy khúc quanh co, cũng chẳng có các hành vi bất chánh. Tâm Bồ đề cũng có thể nói rằng là tâm lợi người, tâm tự giác giác tha, tâm tự lợi lợi tha. “Bồ đề” là tiếng Phạn, dịch là “giác đạo”. Giác đạo có nghĩa là hiểu rõ đạo, khiến chúng ta hiểu rõ đạo này, hiểu rõ con đường này. Hiểu rõ đạo mới có thể tu hành ; nếu không hiểu đạo thì không thể tu hành, thường hay điên đảo, cho phải là trái, cho trái là phải, trắng đen không rõ, nón giày lẫn lộn, vị trí đảo ngược. Hiểu rõ đạo thì có thể đi trên con đường chân chánh ; không hiểu rõ đạo thì sẽ bước vào đường tà. Tóm lại, không làm các việc ác, làm các điều lành, đó chính là tâm Bồ đề. Cho nên cũng chính là giữ gìn giới luật, chúng ta giữ gìn giới luật quy củ, đó chính là tâm Bồ đề ; không giữ gìn quy củ tức là làm mất đi tâm Bồ đề. Ðó chính là ý nghĩa khái quát của tâm Bồ đề.

“Văn”, là văn chương. Vì nó là từng thiên từng thiên, từng chương từng chương, nên gọi là văn chương. Nó có các loại văn pháp như khai hợp chuyển tích, có “chi hồ giả dã hỹ yên tai”, lại có khởi thừa chuyển hợp, và lời văn viết ra mạch lạc, gọn gàng, trong đó bao gồm nhiều ý nghĩa. Bài “Văn Khuyên Phát Tâm Bồ đề” này, cũng giống như kinh điển vậy. Tuy chữ không nhiều, nhưng lý luận của bài văn rất viên mãn, vì thế trong Phật giáo, bài văn này chiếm địa vị vô cùng quan trọng.

 

Sa môn Thật Hiền chùa Phạm Thiên Cổ Hàng soạn

Giảng:

Cổ Hàng : Từ xưa đến nay đều có một chỗ như thế, là chỗ nào ? Chính là Hàng Châu. Hàng Châu là nơi Phật pháp phát triển hưng thạnh, có Tây Thiên Mục, Ðông Thiên Mục, Nam Thiên Mục, Bắc Thiên Mục, lại có Thiên Thai Sơn, bảy đời chư Phật quá Trung Hoa có nhiều chúng sanh có căn tánh Ðại thừa như thế ? Chính là vì chư Phật trước kia thường chọn Trung Hoa làm nơi xuất thế, vì thế chủng tử Ðại

Chùa Phạm Thiên : Phạm có nghĩa là thanh tịnh, chính là ngôi tự viện “Thanh Tịnh Thiên” này.

Sa môn : Sa môn là tiếng Phạn, là tiếng gọi chung của người xuất gia, dịch là “cần tu giới định huệ, tức diệt tham sân si”. Siêng tu giới định huệ có nghĩa là không điên đảo ; dứt trừ tham sân si, có nghĩa là không hồ đồ, không có vô minh. Vì thế danh hiệu chung của người xuất gia gọi là cần tức – cần tu giới định huệ, tức diệt tham sân si. Vậy thì vị xuất gia này pháp hiệu là chi ? Chính là Thật Hiền. Ngài vốn gọi là Tư Tề, chính là “Kiến hiền tư tề yên”, thấy người hiền có đức hạnh thanh cao, muốn cố gắng làm cho được bằng người; lại có một tên riêng gọi là Tỉnh Am. Vì thế người ta thường gọi “Tỉnh Am Ðại sư khuyến phát Bồ đề tâm văn”.

Soạn : là soạn thuật, thuật là nói ra; soạn là đỗ soạn, chính là viết ra. Vậy thì bài văn này do ai soạn? Chính là do Ðại sư Tỉnh Am biên soạn. Sau khi Ngài biên soạn ra, không biết đúng hay sai, vì thế nên khách khí, chỉ nói là soạn, không nói là do Ngài trước tác. Lại nữa Ngài cho rằng ý nghĩa mà Ngài viết ra, trước kia chưa có ; vậy thì sau này có không ? Không biết được, vì thế gọi là đỗ soạn. Ðỗ soạn chính là chỉ có một, không giống với người khác ; cũng chính là sáng tạo ra hình thức độc đáo mới mẻ khác người.

Phần Tựa (Tự phần)

 

Thật Hiền tôi là kẻ phàm phu Tăng bất tiếu ngu hèn, khóc ra lệ máu cúi đầu kính lạy, đau buồn khẩn thiết thưa với chư đại chúng hiện tiền, cùng với chư thiện nam tín nữ có đức tin trong sạch trong hiện đời. Cúi mong quý vị thương xót, lưu ý một chút mà nghe và xét cho.

Từng nghe, cửa chính yếu để vào đạo thì sự phát tâm làm đầu, việc khẩn cấp tu hành thì sự lập nguyện đứng trước. Nguyện lập thì có thể độ chúng sanh, tâm phát thì Phật đạo có thể thành. Nếu không phát tâm rộng lớn, không lập cái nguyện vững bền kiên cố, thì dù trải qua nhiều kiếp như số vi trần, cũng vẫn y nhiên ở trong vòng luân hồi. Dù có tu hành cũng chỉ là uổng công lao nhọc, khổ sở một cách vô ích. Nên kinh Hoa nghiêm nói: “Nếu quên mất tâm Bồ đề mà tu các pháp lành, gọi đó là nghiệp ma”. Quên mất mà còn như thế, huống chi chưa phát ư? Cho nên muốn học Như lai thừa thì trước phải phát Bồ tát nguyện, không thể chậm trễ vậy.

Giảng:

Bất tiếu: là không giống. Không giống cái chi ? không giống trí huệ của chư Phật Bồ tát, Cao Tăng Ðại Ðức từ xưa. Vì các Ngài có trí huệ, vì thế bất luận viết ra cái gì, đều rất đáng tin cậy. Bất tiếu còn có cách giải thích khác. Ví dụ, cha là quan lớn, còn mình chỉ là một kẻ nông phu, vì thế gọi là bất tiếu; hoặc cha là người giàu có sang trọng, mình lại là người nghèo hèn cực khổ, đó cũng gọi là bất tiếu. Tóm lại, không bằng tiền nhân, gọi đó là bất tiếu. Giống như Ðế Nghiêu nhường thiên hạ cho Ðế Thuấn, không truyền cho con mình là Ðan Chu, vì Ðan Chu bất tiếu, vì thế Ngài truyền thiên hạ cho người khác. “Bất tiếu” cũng chính là không giống với cha, không giống với tổ tiên. Mà Ðại sư Tỉnh Am “bất tiếu” ý là nói tư tưởng tâm lý của Ngài không giống với chư Phật, chư Bồ tát. Tại sao không giống? Vì Ngài không có trí huệ của Phật và Bồ tát.

 

Thật Hiền tôi là kẻ phàm phu Tăng : Tôi là kẻ phàm phu, không phải là bậc thánh nhân; kẻ phàm phu Tăng này là ai? là Thật Hiền.

Tuy Ngài là phàm phu Tăng ngu hèn, rất ngu si, rất hạ liệt, là kẻ phàm phu hạ bạc, nhưng Ngài có tấm lòng thành, có chân tâm, nói ra lời chân thành phát xuất từ chân tâm. Chân thành đến mức độ nào ? Chính là khóc ra lệ máu : khóc đến nỗi ra máu. Quý vị thử tưởng tượng nếu không phải chân thành đến cực điểm, khóc đến cực điểm, thì làm sao khóc ra lệ máu ? không bao giờ! Tuy đây là từ hình dung, nhưng cũng chính là sự biểu lộ tâm chân thành tha thiết của Ngài. Cúi đầu kính lạy chính là dập đầu xuống đất.

 

Đau buồn khẩn thiết thưa với chư đại chúng hiện tiền : Tôi a ! Khóc không ra tiếng, đau buồn khẩn thiết thưa với đại chúng hiện tiền. Ðại chúng này bao gồm xuất gia, tại gia và tất cả chúng sanh; không những người mà tất cả chúng sanh khác đều bao gồm bên trong. Ðại là quảng đại rộng lớn ; chúng là chúng sanh ; vì thế ở đây không những nói về người mà bao gồm tất cả chúng sanh. Cùng với chư thiện nam tín nữ có đức tin trong sạch trong hiện đời: đây cũng có thể nói là hiện tại, cũng chính là đương thời, cũng giống như “hiện tiền” vậy, nhưng về mặt văn pháp thì Ngài dùng như thế. Thiện nam tín nữ v.v… cũng chính bao gồm tất cả người tại gia ở trong.

Cúi mong quý vị thương xót, lưu ý một chút mà nghe và xét cho : Tôi hôm nay chỉ mong quý vị mỗi người từ bi thương xót để ra một chút ít thời gian, nghe lời tôi nói và xem xét, suy nghĩ. Chữ “xét” này chính là xem xét, suy nghĩ ; tiếng Anh gọi là think it over.

Từng nghe, cửa chính yếu để vào đạo thì sự phát tâm làm đầu : Tôi thường nghe người ta nói rằng. Nói cái gì ? Nói nếu muốn tu hành học đạo, thì con đường chính yếu quan trọng của nó là gì ? Nhất định trước cần phải phát tâm Bồ đề, đây mới là điều quan trọng nhất. Việc khẩn cấp tu hành thì sự lập nguyện đứng trước : Tu hành thì điều quan trọng nhất cần phải hiểu là gì ? Ðó là cần phải phát nguyện, nếu không phát nguyện thì không thể tu hành ; dù nói nói rất nỗ lực tu hành, cũng đều là giả. Vì ngay cả nguyện chúng ta còn không dám phát, thì còn tu đạo gì ? Bạn nói tu đạo chính là đang gạt người vậy ! Nếu chân chánh muốn tu hành, tại sao không dám phát nguyện ? Vì thế nói, tu hành thì sự lập nguyện đứng trước, trước cần phải lập một nguyện.

Nguyện lập thì có thể độ chúng sanh : chúng ta đã có nguyện lực, có nghĩa là đã có thuyền bè, mới có thể độ người. Nếu không có thuyền, thì làm sao có thể độ người, đưa người đến bờ bên kia ? Nguyện giống như chiếc thuyền vậy. Nếu chúng ta không có nguyện, thì dù nói : “Tôi tu hành, tôi tu hành” A ! Nhưng đến lúc đó thì quên mất không còn nhớ nữa. Vì thế lập nguyện đứng trước, đã có nguyện hộ trì, mới có thể hóa độ chúng sanh. Tâm phát thì Phật đạo có thể thành : Nếu ông đã phát tâm Bồ đề thì mới có đủ tư cách thành Phật ; nếu không phát tâm Bồ đề, thì không có cơ hội thành Phật. Cho nên, điều này rất vô cùng khẩn thiết, vô cùng quan trọng.

Nếu không phát tâm rộng lớn, không lập cái nguyện vững bền kiên cố : Nếu như ông không phát tâm rộng lớn, mà cứ hẹp hòi, nhỏ mọn. một chút thiệt thòi cũng không chịu, cũng không thể xả bỏ. Còn phải lập nguyện kiên cố vững bền nhất ; nguyện này tôi đã trình bày, thì nhất định cần phải làm như thế, không thể thay đổi, đó gọi là nguyện kiên cố vững bền, nếu không phát tâm rộng lớn, không lập nguyện kiên cố vững bền, thì dù trải qua nhiều kiếp như số vi trần, cũng vẫn y nhiên ở trong vòng luân hồi : thì dù có trải qua nhiều kiếp như số vi trần, cũng không thể thoát ra vòng luân hồi. Luân hồi, chính là lục đạo luân hồi – thiên đạo, nhân đạo, a tu la là tam thiện đạo; và địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là tam ác đạo. Vẫn phải xoay chuyển trong vòng luân hồi ; dù cho là làm việc lành nào, hoặc là sanh thiên, hoặc làm người hưởng phước báu cũng không có ý nghĩa gì, vẫn y nguyên ở trong vòng luân hồi ! Dù có tu hành cũng chỉ là uổng công lao nhọc : Tuy ăn chay, tụng kinh, niệm Phật, nhưng bất luận chúng ta cố gắng bỏ ra bao nhiêu công phu, đều là uổng công lao nhọc một cách vô ích, rất cực khổ ; chúng ta tu pháp môn gì, cũng không phải cứu cánh.

Nên kinh Hoa nghiêm nói: “Nếu quên mất tâm Bồ đề mà tu các pháp lành, gọi đó là nghiệp ma” : Vì thế Kinh Hoa Nghiêm nói : Nếu như quên mất tâm Bồ đề, dù có tu các pháp lành, cũng là tu các nghiệp thiên ma ở sáu cõi trời Dục giới”. Vì vô minh của mình chưa đoạn, tâm dâm dục chưa đoạn, tu các pháp này đều là tạo nghiệp thiên ma. Quên mất tâm Bồ đề chính là niệm không thanh tịnh. Nếu niệm thanh tịnh chính là tâm Bồ đề, tâm niệm không thanh tịnh chính là ma nghiệp. Quên mất mà còn như thế, huống chi chưa phát ư? : Quên mất tâm Bồ đề, dù tu các pháp lành, cũng đều là ma nghiệp, huống hồ là chưa phát ư ! Nếu không phát tâm Bồ đề, thì chúng ta có thể tu cái gì ? Tu cái gì cũng đều là ma nghiệp.

Cho nên muốn học Như lai thừa thì trước phải phát Bồ tát nguyện, không thể chậm trễ vậy : Vì thế cho nên chúng ta muốn học Phật pháp, muốn học Phật thừa, nhất định trước phải phát nguyện lực Bồ tát. Nếu chúng ta không phát nguyện lực này, thì thường xoay chuyển trong hang động của ma, cứ lui tới trong hang động của ma. Vì thế tâm Bồ đề này, chúng ta không thể chờ đợi, không thể nói rằng : “Chúng ta sau này sẽ phát Tâm Bồ đề, lập nguyện Bồ tát!”. Không thể như thế được ! Chúng ta nhất định phải ngay hiện tiền lập tức phát tâm Bồ đề, hành Bồ tát đạo, mới có thể vượt ra vòng luân hồi, liễu thoát sanh tử !

 

Nhưng tâm nguyện vốn có nhiều tướng trạng khác nhau, nếu không chỉ ra thì làm sao biết mà xu hướng đến. Nay xin vì đại chúng mà trình bày sơ lược . Sự phát tâm lập nguyện gồm tám tướng là tà chánh, chân ngụy, đại tiểu, thiên viên. Như thế nào là tà chánh, chân ngụy, đại tiểu, thiên viên? Ðời có kẻ tu hành mà từ trước đến nay chỉ một bề hành theo sự tướng, không biết tham cứu tự tâm, chỉ lo những việc ở ngoài, hoặc mong cầu lợi dưỡng, hoặc ưa thích hư danh, hoặc ham dục lạc hiện đời, hoặc mong cầu phước báo mai sau, phát tâm như vậy gọi là tà. Ðã không mong cầu hư danh lợi dưỡng, lại không ham quả báu dục lạc đời sau, chỉ vì mong liễu thoát sinh tử, vì chứng đắc Bồ đề, phát tâm như vậy gọi là chánh.

Giảng:

Nhưng tâm nguyện vốn có nhiều : Ðã là như thế, chúng ta nhất định phải phát tâm Bồ đề, lập nguyện kiên cố vững bền. Nếu không phát tâm Bồ đề, thì không bao giờ có thể thành tựu Phật đạo ; không lập nguyện kiên cố bền vững sẽ không đạt đến mục đích, không đạt đến chỗ cứu cánh. Nhưng tâm nguyện phát ra có rất nhiều loại không giống nhau, vì thế nên nói tướng trạng khác nhau: phát tâm chính là tư tưởng của người, mục đích của người, chí nguyện của người, mục tiêu của người; căn tướng này rất nhiều, có thể nói nhiều đến tám vạn bốn ngàn.

 

Nếu không chỉ ra thì làm sao biết mà xu hướng đến. Nếu tôi không chỉ ra rõ ràng điều này, không trình bày cặn kẽ, thì làm sao quý vị biết mà tiến lên phía trước ? Xu, là tiến lên phía trước, đến chỗ đó. Hướng, là hướng đến chỗ đó ; đối diện với chỗ đó, gọi là đối hướng. Xu hướng, chính là ta làm sao để có được mục tiêu ? Ta làm sao để có phương châm, tông chỉ ? Nay xin vì đại chúng mà trình bày sơ lược: Ðại sư Tỉnh Am nói, tôi nay vì đại chúng trình bày sơ lược những điều quan trọng. Lược, là giản lược, không thể nói hết ; nói đơn giản một chút, nói ít một chút.

 

Sự phát tâm lập nguyện gồm tám tướng : Tướng trạng này tổng quát thì có tám loại. Tám loại là gì ? là tà chánh, chân ngụy, đại tiểu, thiên viên: Có tà, có chánh,có chân có ngụy, có đại có tiểu, có thiên có viên.

Thế nào gọi là tà ? Chính là lòng ích kỷ, chỉ biết lợi ích riêng mình. Thế nào gọi là chánh ? Chính là không ích kỷ. Thế nào gọi là chân ? Chính là lợi người không lợi mình. Còn ngụy chính là lợi mình không lợi người. Quý vị dùng sáu đại tông chỉ (1) để xem thì có thể hiểu rõ.

Thế nào gọi là tiểu, thế nào gọi là đại ? Tiểu chính là vì mình, đại là vì đại chúng. Nên nói “Vì người không vì mình, cuối cùng là Phật thể, vì mình không vì đại chúng, rốt cuộc uổng phí cuộc đời“. Dù có bỏ cả sanh mạng mình, cũng không có ích dụng gì. Ðại là phát tâm quảng đại, cũng chính là hành Bồ tát đạo. Vậy nếu không phát đại tâm mà phát tiểu tâm thì sao ? Chính là không hành Bồ tát đạo, ích kỷ tự lợi, tranh giành, tham lam, ham cầu, chỉ tính toán cho mình, đó đều là tiểu. Nếu lo toan cho đại chúng, chí công vô tư, chánh trực không thiên vị, khắp cùng cúng dường, lấy pháp giới làm thể, lấy hư không làm dụng, đó gọi là đại.

Thiên là thiên về một bên, vào một chỗ nhỏ, không có viên dung. Viên là bao la vạn hữu, chính là viên mãn Bồ đề, không có chỗ nào mà không bao bọc, chẳng có chỗ nào mà không dung chứa. Tôi có một bài kệ tụng có thể dùng để hình dung cái “viên” này :

“Pháp giới vi thể hữu hà ngoại,

Hư không thị dụng vô bất dung.

Vạn vật bình đẳng lìa phân biệt,

Nhất niệm bất sanh tuyệt ngôn tông”.

Dịch :

Pháp giới là thể có chi ngoài,

Hư không là dụng đều dung chứa.

Vạn vật bình đẳng lìa phân biệt,

Một niệm không sanh bặt  ngữ ngôn.

Bí Quyết ‘Bế Tinh Hoàn Não’ Bi / 2023

Một người tập… hai người vui

Người đàn ông 38 tuổi, dong dỏng cao, điển trai tên T. mà tôi gặp tại Y võ Thiên Phúc cởi mở “khoe” rằng: Nhờ tập luyện phương pháp “bế tinh hoàn não” hàng ngày, do võ sư Nguyễn Khắc Chương truyền dạy, nay anh có thể tự hào về “bản lĩnh đàn ông” của mình. Người đàn ông lập gia đình có cậu con trai 13 tuổi này bộc bạch thêm: Trước đây vấn đề sinh lý của anh thuộc dạng bình thường, không yếu nhưng cũng chẳng khoẻ. Tuy vậy, anh luôn cảm thấy mình là người có lỗi, vì rất hiếm khi có thể đưa “nửa thứ hai” đạt tới đỉnh điểm trong những lần quan hệ. Mặc dù, sức khoẻ của anh được xếp vào loại A, không hề mắc chứng bệnh nào.

Một cơ duyên đưa anh trở thành học trò của võ sư Nguyễn Khắc Chương. Hiểu được “tâm tư” của anh, võ sư đã truyền dạy phương pháp “bế tinh hoàn não”. Khi đã tập luyện thành thục những “bài” thầy dạy, cũng là lúc anh nhận ra trong con người mình có những biến chuyển rõ rệt. Mỗi lần quan hệ, anh thấy vấn đề sinh lý của mình cải thiện trông thấy như thời gian quan hệ lâu hơn, việc “xuất binh” ít tinh dịch hơn. Trước đây, sau mỗi lần “quan hệ” xong, anh thường cảm thấy hơi đau lưng, và “xong việc” thường muốn lăn ra ngủ. Nay, “xong việc” anh thấy tinh thần khoan khoái, muốn được tiếp tục âu yếm, trò chuyện với bạn đời. Điều anh cảm nhận rất rõ nữa, mỗi lần quan hệ “nửa thứ hai” đều được “lên đỉnh”.

Người đàn ông ngoài tuổi 50, là giám đốc một doanh nghiệp tư nhân, đến Y võ Thiên Phúc (số 5, ngách 7, ngõ 409 Đường An Dương Vương, quận Tây Hồ, Hà Nội) trong tình trạng thường xuyên đau lưng, mỏi gối, mắc tiểu đêm. Võ sư Nguyễn Khắc Chương chẩn bệnh, đây là chứng bệnh của thận kém. Một liệu trình đưa ra, ngoài đắp thuốc Nam chữa đau lưng, uống thuốc bổ dương, kèm theo là những bài tập luyện khí công theo hướng dẫn của các võ sư. Người đàn ông chăm chỉ uống thuốc đều đặn, cùng với tập luyện khí công kiên trì, đúng phương pháp, sau hai tháng, ông mừng ra mặt, bởi không những hết chứng đau lưng, mỏi gối, mà còn thấy khoẻ hơn trong “chuyện ấy”. Giờ đây, không phải đến Y võ Thiên Phúc chữa bệnh, vị giám đốc hàng ngày vẫn luyện tập những bài tập các võ sư truyền đạt. Ông cho biết, sinh hoạt vợ chồng tuy “thưa thớt” hơn ngày trước do tuổi tác, song chưa khi nào ông thấy bà xã hài lòng như thời gian này. Ông nói: “Đã có lần, vợ tôi thốt lên, ông đang dùng Viagra đấy à?”.

Phương pháp “bế tinh hoàn não”

Võ sư Nguyễn Khắc Chương mở đầu câu chuyện, nguyên nhân gây yếu sinh lý cho nam giới là do thiếu testosterone, do tổn thương thực thể ở thận, do bộ phận sinh dục nam bị viêm nhiễm, hay mắc bệnh phì đại tiền liệt tuyến, do stress, suy nhược cơ thể, tinh thần bất an… Ngoài ra, còn do nam giới “động dục” quá sớm như xem nhiều phim sex khi tuổi đời còn quá non trẻ, dẫn đến thường xuyên học theo phim thủ dâm lâu ngày mà dễ mắc các chứng “xuất binh” sớm, di tinh, mộng tinh… Nguyên nhân nữa là do “phạm luật”, đó là quan hệ lúc uống rượu say, quan hệ quá độ, quan hệ lúc bạn tình không hứng khởi, hoặc quan hệ không đúng cách (như sau ăn no quá, hay vừa mới ốm dậy, hoặc trong những ngày kỵ mồng một, ngày rằm hàng tháng, giữa thời tiết mưa giông, sớm chớp…). Những nguyên nhân này, khiến nam giới mất phong độ. Ngoài ra gây cho người đàn ông chứng tiểu đêm, tiểu buốt, hoặc nóng rát đường tiết niệu. Bị nặng sẽ mắc chứng di tinh, mộng tinh.

Võ sư Nguyễn Khắc Chương dẫn lời Đại danh y Tuệ Tĩnh: “Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần/ Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình”. Tinh (tinh dịch) của người đàn ông vô cùng quý giá, nó được ví như đốm lửa sưởi ấm cơ thể người đàn ông. “Đốt tinh (tinh dịch) thì hoá khí (khí huyết). Đốt khí thì hoá thần (tinh thần). Đốt thần thì hoá hư (thiên tuệ của con người” – võ sư lí giải. Chính vì vậy, việc tập luyện sẽ giúp các quá trình tích luỹ, chuyển hoá trong cơ thể được tốt hơn. Phương pháp “hoàn tinh bổ não”, hay pháp bế tinh, theo võ sư giúp khi quan hệ mọi thứ vẫn bình thường, người đàn ông vẫn đạt đến khoái cảm, tinh dịch vẫn “sôi lên” khi đạt đến đỉnh điểm, chỉ khác một điều: nam giới làm chủ được quá trình “xuất binh”.

Bài thuốc một đêm ‘yêu’ 6 lần sinh 5 con trai

Bài thuốc được cho là của vua Minh Mạng từng sử dụng, phục vụ cho việc phòng the với những công hiệu thần kỳ.

Lâu nay, dân gian vẫn truyền tụng về toa thuốc bổ có tên là Minh Mạng thang (thuốc của vua Minh Mạng dùng) có khả năng tăng cường sinh lực với những cái tên hấp dẫn như “nhất dạ lục giao sinh ngũ tử” (một đêm quan hệ 6 lần, sinh 5 con trai) và “nhất dạ ngũ giao sinh tứ tử” (một đêm quan hệ 5 lần sinh 4 con trai).

Nếu như trong thần thoại Hy Lạp có vị thần Hercule, một đêm quan hệ với 50 phụ nữ và có đến… 49 cô thụ thai thì ở Việt Nam có vua Minh Mạng cũng không kém mấy với tương truyền một đêm quan hệ đến… 6 lần và sinh 5 con trai. Tương truyền, điều làm nên khả năng thần kỳ ấy của vua Minh Mạng chính là bài thuốc có tên Minh Mạng thang do Thái y viện triều Nguyễn điều chế.

Theo nhà nghiên cứu Huế – ông Phan Thuận An, trong số 13 đời vua nhà Nguyễn thì chỉ có 2 vị vua tỏ ra quan tâm nhiều nhất đến tổ chức, hoạt động và hiệu quả của Thái y viện, đó là vua Minh Mạng (trị vì từ 1820-1840) và vua Tự Đức (trị vì 1847-1883).

Hai vua đều có lý do khác nhau, trong đó vua Tự Đức quan tâm vì thể chất đau yếu bẩm sinh, tai biến của bệnh đậu mùa biến chứng dẫn đến “bất lực”, rất muốn có con để truyền ngôi. Còn vua Minh Mạng thì lại khác. Theo Nguyễn Phúc tộc thế phả, nhà vua chính thức có 43 phi tần. Tuy vậy, cho đến nay, chưa ai biết vua Minh Mạng có bao nhiêu cung nữ, vì sử sách không ghi rõ.

Bộ Minh Mạng chính yếu của Quốc sử quán triều Nguyễn chỉ tiết lộ, vào tháng giêng năm Minh Mạng thứ sáu (tháng 2/1825) trong kinh kỳ ít mưa, nhà vua thấy hạn làm lo, chỉ dụ cho quan Thượng Bảo khanh là ông Hoàng Quýnh rằng: “2-3 năm trở lại đây, hạn hán liên tiếp. Trẫm nghĩ xem vì đâu mà thế, nhưng chưa tìm ra nguyên nhân, có lẽ trong thâm cung, cung nữ nhiều nên âm khí uất tắc mà nên vậy ư? Nay bớt đi, cho ra một trăm người, ngõ hầu có thể trừ thiên tai vậy”. Con số bớt đi mà đã tới 100 cung nữ, vậy số còn lại trong cung chắc hẳn phải là vài trăm trở lên.

Trong cuốn “Kể chuyện các đời vua nhà Nguyễn” do Nguyễn Viết Kế sưu soạn viết: “Bình nhật, khi nghỉ ngơi, vua có 5 bà vợ hầu hạ: một bà vấn thuốc têm trầu, một bà quạt, một bà đấm bóp, một bà ru và một bà để sai vặt. Mỗi đêm, vua cho thái giám gọi 5 bà vào hầu. Mỗi bà một canh. Hết 5 canh thì danh sách các bà được chuyển giao cho Tôn Nhơn phủ giữ để tiện theo dõi việc khai hoa nở nhụy của các bà sau này”. Từ những so sánh ấy mà người ta đã suy diễn ra rằng nhà vua cần tăng lực để thỏa mãn thú vui xác thịt với hàng trăm bà vợ trong cung.

Cũng theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, tương truyền một số lương y hiện nay ở Huế có nghe các vị ngự y tiền bối kể lại rằng vua Minh Mạng đã phí sức lực vào việc giới tính từ rất sớm, ngay từ thời còn là hoàng tử.

Một thời gian trước khi lên ngôi (năm 1820, vua 29 tuổi), ông đã rất yếu về đường sinh dục. Cho nên sau khi đăng quang, vua đã ra lệnh cho các quan ngự y phải cố gắng giúp mình lấy lại sức khỏe. Do đó, các ngự y đã làm ra thang thuốc bổ ngâm rượu để nhà vua dùng hằng ngày và thang thuốc này rất hiệu nghiệm. Các bài thuốc đó, ngày nay còn lưu truyền với tên gọi “Minh Mạng thang” gồm 20 bài (có tài liệu ghi 24 bài).

Trong đó, hai bài nổi tiếng nhất, được các thầy thuốc dùng chữa bệnh nhiều nhất hiện nay là “nhất dạ lục giao sinh ngũ tử” (một đêm quan hệ 6 lần, sinh 5 con trai) và “nhất dạ ngũ giao sinh tứ tử” (một đêm quan hệ 5 lần, sinh 4 con trai). Và hiệu nghiệm đầu tiên rất cụ thể đó là về mặt sinh lý, nhà vua đã sinh được 78 hoàng tử và 64 hoàng nữ. Hiệu nghiệm thứ hai đó là về mặt tinh thần, trí tuệ.

Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, từ trước năm 1975, trên một số báo chí, sách đông y và y học dân tộc ở miền Nam đã xuất hiện các công bố về toa thuốc Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử. Nhật báo Sống (Sài Gòn) số ra ngày 27/4/1968 đã đăng một toa thuốc Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử với 25 vị thuốc bắc.

Đến năm 1987, lương y Lê Văn Sơn, với sự trợ giúp của lương y Bùi Văn Nông, thuộc Tổ chẩn trị y học dân tộc -Trạm y tế Tân Đông Hiệp và Tân Bình (Thuận An, Sông Bé) đã xuất bản ấn phẩm (lưu hành nội bộ) “Những phương thuốc bổ và trường xuân”, trích dịch từ sách “Vạn bệnh hồi xuân”. Trong ấn phẩm này có giới thiệu một bài thuốc với tiêu đề Toa rượu bổ của vua Minh Mạng dùng.

Theo đó, bài thuốc gồm 22 vị, có hướng dẫn cách ngâm rượu và cách dùng cũng như mô tả 6 công dụng đặc biệt: đại bổ khí huyết, tăng cường sinh lực, bồi bổ thần kinh; ngăn ngừa bệnh tật, trị khỏi đau lưng, nhức mỏi và bồi bổ cho sản phụ; người liệt dương (uống từ 1-2 tháng có thể có con); người khản tiếng, nói không to, uống thuốc nói được to tiếng; thận yếu lâu, bán thân bất toại, đi đứng không được, uống thuốc rượu này rất tốt; người gần chết, uống vào có thể sống lại 3 ngày nữa; già lão 60 tuổi, uống vào tăng tuổi thọ rất nhiều, đêm ngủ không mộng mị, không bị táo bón.’

Từ những bài thuốc được công bố này, nhà nghiên cứu Phan Thuận An đã đối chiếu với các tư liệu lịch sử ghi chép về vua Minh Mạng để thực hiện bài viết Toa thuốc bổ Nhất dạ ngũ giao sinh lục tử của vua Minh Mạng đăng trên tạp chí Sông Hương số xuân Tân Mùi (1991). Vì công hiệu của toa thuốc mà nhà vua đã dùng ấy, các quan lớn trong triều đã “phạm thượng” bí mật sao chép mang về để dùng, rồi sau đó lan truyền trong dân gian.

Thêm một cứ liệu nữa khiến người ta quy kết những toa thuốc có tên Nhất dạ lục giao là toa thuốc của vua Minh Mạng, bởi vì tương truyền, chính vua Minh Mạng từng có thơ nhắc đến việc “nhất dạ lục giao tam hữu dựng” (một đêm 6 lần giao hợp, 3 lần có con). Câu thơ này được tác giả Phạm Khắc Hòe – Ngự tiền Văn phòng Đổng lý thời vua Bảo Đại chép trong sách Kể chuyện vua quan triều Nguyễn (NXB Thuận Hóa xuất bản năm 1990).

Từ câu thơ này mà nhiều người cho rằng chính những bài thuốc lưu truyền trong dân gian với tên gọi như: Nhất dạ lục giao, Nhất dạ ngũ giao, Lục giao tam dựng, Ngũ giao tam dựng… là toa thuốc của vua Minh Mạng dùng.

Theo Lao Động

Thứ Năm, 25/07/2013

Lương y Phạm Giao chữa bệnh tác động cột sống

– Quen biết lương y Phạm Giao chừng vài năm, mãi sau này tôi mới biết, ông là con trai trưởng của cụ Phạm Thị Tề, chủ nhân ngôi nhà vườn cổ nổi tiếng, duy nhất còn lại giữa lòng phố cổ Hà Nội, từng được các chuyên gia Nhật Bản giới thiệu trong cuốn sách: “The 36 Guild streets”area Hanoi’s Ancient Quarter”.

Gia đình ông Phạm Giao, xuất thân từ làng Châu Khê (tỉnh Hải Hưng cũ) lên Hà thành sinh cư lập nghiệp mang theo nghề lọc vàng lá hiệu “Sư tử” gia truyền, song như một cơ duyên, ông rẽ lối theo nghề y.

Kỹ sư điện theo học nghề y

Căn phòng nhỏ, nơi ông Phạm Giao chữa bệnh bằng tác động cột sống, nằm trong khu nhà vườn cổ (số 115 trên phố Hàng Bạc, cổng sau là số 6 Đinh Liệt, Hà Nội). Bạn bè đến, ông thường dẫn dạo quanh ngôi nhà vườn, giới thiệu trong niềm tự hào về nơi còn lưu dấu hồn phách của kiến trúc nhà cổ, gắn với nếp sống của một gia đình đậm chất Hà thành này. Khác xa với sự ồn ào, náo nhiệt của phố xá bên ngoài, đi vào ngôi nhà vườn là một không gian tĩnh lặng, yên bình với không gian xanh mát của những hàng cau cao vút, cây móng rồng, tre đằng ngà, hay trúc quân tử.

Mẹ ông, cụ Phạm Thị Tề – chủ ngôi nhà vườn cổ năm nay cũng gần tròn tuổi 100, nhưng trông cụ dáng vẻ còn khỏe mạnh và minh mẫn. Ngôi nhà vườn từng chứng kiến biết bao biến đổi, thăng trầm của thời cuộc, tính đến nay đã có 5 thế hệ con cháu cụ Tề quây quần ở số 6 Đinh Liệt này. Trong 8 người con của cụ Tề, trừ người con trai út sống ở TP Hồ Chí Minh, 7 cặp dâu rể (đều đã lên tuổi ông bà) hiện cùng sinh sống trong ngôi nhà vườn này. Thế hệ cháu (đã lập gia đình) và chắt (trong đó có chắt đã 29 tuổi) của cụ Tề thì chuyển đến nơi ở mới. Ngôi nhà vườn gồm 16 phòng, cụ Tề chia cho mỗi cặp vợ chồng con cái 2 phòng, riêng người con trai trưởng – ông Phạm Giao được 3 phòng. Trong gia đình cụ, các con vẫn luôn giữ lề lối gia đình nề nếp, nho nhã, ăn ở kính trên nhường dưới.

Ông Phạm Giao cho biết, vào khoảng năm 1890, khi bắt đầu hình thành phố nghề vàng bạc Hàng Bạc thì gia đình cụ thân sinh của ông từ làng Châu Khê (của tỉnh Hải Hưng cũ) lên Hà thành sinh cư lập nghiệp mang theo nghề lọc vàng lá hiệu “Sư tử” gia truyền. Và vào năm 1945, bố mẹ ông mua ngôi nhà vườn trong khu đất rộng 560m vuông, xuyên hai mặt phố Đinh Liệt và Hàng Bạc. Sau năm 1954, đại gia đình ông không ai theo nghề lọc vàng nữa, các thành viên trong nhà chuyển sang làm nhiều công việc khác nhau.

Người em gái thứ ba của ông – bà Nguyệt Nga là họa sỹ, chuyên vẽ tranh về sinh hoạt người Tràng An trong khu phố cổ và phong cảnh Hà Nội. Bà Kim Loan làm nghề sang sợi thủ công, bà Lan Hương theo nghề thêu. Ông Phạm Giao thì theo nghề Đông y, với bài thuốc bí truyền chữa các bệnh cột sống, kết hợp phương pháp tác động cột sống mà ông theo học được từ cố lương y Nguyễn Tham Tán – từng công tác tại khoa Đông y Bệnh viện Bạch Mai và lương y Nguyễn Dư Chấn (Bµi thuèc gia truyÒn cña thÇy D­ ChÊn chñ yÕu ch÷a tho¸i ho¸ cét sèng). Tốt nghiệp kỹ sư điện Đại học Bách khoa Hà Nội năm 1960, nhưng khi nghe danh lương y Nguyễn Tham Tán chữa bệnh bằng tác động cột sống, từ năm 1976 ông Phạm Giao đã tìm lên tận Phú Thọ – quê cụ để theo học bằng được phương pháp chữa bệnh này.

Gặp thầy, gặp thuốc

Phương pháp tác động cột sống của Thầy Tham Tán

Nói về người Thầy của mình, ông Phạm Giao cho biết, lương y Nguyễn Tham Tán là người xã Hoàng Xá (huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ), nếu còn sống năm nay cụ lên tuổi chín mươi sáu (cụ sinh năm 1915). Là một thầy thuốc Đông y, cụ rất coi trọng những bài thuốc quý trong dân gian, những kinh nghiệm chữa bệnh quý trong nhân dân (cho dù những kinh nghiệm đó chưa lý giải được bằng lý luận của Đông, Tây y lúc bấy giờ). Thời ấy ở quê cụ Tán mỗi khi trong gia đình ai đó có người bị đau bụng, người nhà thường chỉ việc lẳng lặng đến chỗ chiếc bình đựng vôi (dùng để ăn trầu), lấy vôi quệt vào gan bàn tay rồi vuốt dọc theo cột sống người bệnh từ cổ xuống thắt lưng vài lần cho tới khi thấy khỏi mới thôi. Từ kinh nghiệm dân gian, sau này hễ gặp những người bị đau bụng, cụ Tán đã giúp họ giảm hoặc dứt hẳn cơn đau bằng cách dùng gan bàn tay của mình (mà không hề quệt vôi) vuốt trên cột sống của người bệnh. Quả thật, với cách này người bệnh đều thấy đỡ đau, có người thì khỏi đau.

Còn nhớ, năm 1981 – 1982, phương pháp tác động cột sống của lương y Nguyễn Tham Tán đã thể nghiệm thành công chữa bệnh đau dây thần kinh hông to (thường gọi là viêm thần kinh toạ) tại Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội, đạt kết quả chín mươi lăm phần trăm tốt và khá. Đây là một bệnh thường gặp trong nhân dân, làm ảnh hưởng khả năng vận động của chi dưới, thậm chí đứng lên, ngồi xuống rất khó khăn, phải điều trị dài ngày trong bệnh viện… Nên, tác động cột sống – một phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc mà dùng phần mềm của đầu ngón tay tác động trên hệ cột sống để chẩn bệnh, phòng bệnh và trị bệnh đã gây tiếng vang.

Tham gia chữa bệnh bằng phương pháp tác động cột sống tại khoa Đông y Bệnh viện Bạch Mai từ năm 1981, lương y Nguyễn Tham Tán đồng thời cũng là giảng viên giảng dạy phương pháp tác động cột sống tại trường Y học dân tộc Tuệ Tĩnh cho đến ngày nghỉ hưu. Phương pháp tác động cột sống có khả năng lớn trong điều trị các bệnh khác nhau, như bệnh về các chức năng vận động (đau lưng cấp và mạn tính, đau cổ, vai gáy, đau cánh tay, đau dây thần kinh hông (thần kinh toạ), đau quanh khớp vai, đau khớp đầu gối, đau thần kinh liên sườn…); bệnh về nội tạng (như điều hoà nhịp tim, thiểu năng động mạch vành, đau dạ dày không do vi khuẩn, rối loạn chức năng gan, hen phế quản, hen suyễn, viêm đại tràng mãn tính, rối loạn tiêu hoá…); bệnh về nội tiết và tăng sinh tế bào (kinh nguyệt không đều, rong kinh, bế kinh, hành kinh đau bụng, trứng cá nhiều, suy giảm khả năng sinh dục…).

Bác sỹ Lê Đình Yên – Khoa Dưỡng sinh khí công – xoa bóp – bấm huyệt – Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam, cho rằng, có nhiều loại bệnh ngoài dùng thuốc (Tây lẫn Đông y), thì phương pháp tác động cột sống giúp người bệnh chóng khỏi và phục hồi sức khoẻ nhanh. Bằng các động tác tác động, người tác động tạo ra một loại sóng cảm giác để cắt, hoặc giảm các phản xạ đau của người bệnh.

Cơ thể khoẻ mạnh, bình thường, thì cột sống không có bệnh. Khi cơ thể bạc nhược, hoặc có bệnh, thì biểu hiện ở trên cột sống là không bình thường (có các điểm đau). Người thầy thuốc cần tìm ra những điểm không bình thường (điểm đau) đó để giải toả, hay làm mất những điểm không bình thường đó. Trong các điểm đau có nhiều yếu tố kèm theo. Độ tinh xảo của người thầy là phát hiện lý do để xuất hiện điểm đau ấy. Sở dĩ tác động cột sống có hiệu quả trong chữa bệnh thực sự, theo thầy bởi nó điều hoà chức năng các tạng phủ trong cơ thể và cân bằng âm dương. Khi cân bằng được âm dương thì người bệnh hết bệnh… Ngay cả chữa chứng yếu sinh lý, thì ngoài dùng bài thuốc đông y chữa trị, còn có thể chữa bằng phương pháp tác động vào cột sống.

Phương pháp chữa bệnh bằng tác động cột sống, theo thầy Lê Đình Yên, là nó được đúc rút từ dân gian, từ kinh nghiệm chữa bệnh và giảng dạy của cố lương y Nguyễn Kiều (người sáng lập ra trường Y học dân tộc Tuệ Tĩnh, nay là Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam), từ cụ Nguyễn Tham Tán (giảng viên của trường) và nhiều giáo sư, bác sỹ của Học viện.

Thứ Năm, 25/07/2013

1. Loại phong hàn: 2. Loại phong nhiệt: 3. Loại âm hư: 4. Trà tía tô gừng

Bắt mạch bằng máy

Các bệnh lý tuyến giáp theo ông Đinh Lai Thịnh – giám đốc Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ trong y học cổ truyền, gồm:

1. Bướu tuyến giáp đơn thuần hay bướu tuyến giáp lành tính, đôi khi quen gọi ngắn gọn là bướu cổ. Nguyên nhân là do thiếu hụt iod trong đất và nước, là nguyên nhân quan trọng ở vùng bướu cổ địa phương. Sự thiếu hụt này gây lên tình trạng gọi là rối loạn do thiếu iod. Bên cạnh do rối loạn trong quá trình sinh tổng hợp hormon tuyến giáp, yếu tố miễn dịch của một số người có kháng thể kích thích tuyến giáp làm tăng khối lượng song không làm thay đổi khả năng sinh tổng hợp hormon tuyến giáp; do dùng một số loại thức ăn (như các rau củ thuộc họ cải: củ cải, bắp cải chứa chất ngăn cản sự tạo ra các tiền chất của T3, T4…), hay một số loại thuốc gây rối loạn chuyển hoá iod. Điều trị bệnh này nhằm giảm kích thước của bướu, giữ cho chức năng tuyến giáp luôn ở trạng thái bình thường.

2. Bệnh bướu giáp lan toả nhiễm độc (bệnh Basedow): được coi là một bệnh nội tiết nặng, trong đó tình trạng bệnh lí nổi bật là tổ chức tuyến giáp tăng sinh và phì đại lan toả, đồng thời tiết quá nhiều hoocmon giáp trạng so với nhu cầu của cơ thể, dẫn tới nhiễm độc nội sinh hoocmon giáp các cơ quan trong cơ thể. Bệnh căn bởi các chấn thương tinh thần, có thể gặp bệnh xuất hiện ngay sau các viêm nhiễm cấp tính đường hô hấp, viêm họng, cúm, bạch hầu…

3. Bệnh suy chức năng tuyến giáp: là tình trạng giảm chức năng tuyến giáp dẫn đến sự thiếu hụt tổng hợp hormon tuyến giáp. Bệnh có thể xuất hiện sau khi sinh hoặc trong thời kỳ trưởng thành, gây ra chứng đần độn (cretinism). Nguyên nhân do thiếu hụt bẩm sinh men tổng hợp hormon giáp, do tai biến sau điều trị phóng xạ, chiếu xạ, thiếu hụt cung cấp iod, thuốc kháng giáp tổng hợp, suy toàn bộ chức năng tuyến yên, thiếu hụt TSH đơn độc, u vùng dưới đầu…

4. Bướu tuyến giáp thể nhân: Tuyến giáp to có thể dưới dạng nhân, đơn nhân hay nhiều nhân. Bướu tuyến giáp nhiều nhân có thể xuất hiện ngay từ đầu, hoặc trên nền một bướu to lan toả đã có sẵn. Dạng bướu này là sự phì đại của toàn bộ tuyến giáp, trong đó xen kẽ nhiều nhân giáp. Nếu không có biến chứng thì chức năng tuyến giáp không thay đổi. Trong số bệnh nhân có bướu tuyến giáp thể nhân thì 50% là bướu đơn nhân. Về nguyên nhân của bướu tuyến giáp thể nhân cũng tương tự như bướu cổ đơn thuần lan toả.

5. Ung thư tuyến giáp: Là u ác tính của tế bào biểu mô nang tính. Có bốn thể loại khác nhau về diễn biến và tiên lượng đó là u thư tuyến giáp thể nhú, thể nang, thể kém biệt hoá, và thể tuỷ.