Bí Quyết Làm Giàu Ở Việt Nam / 2023 / Top 14 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Globaltraining.edu.vn

Bí Quyết Giúp Viettel Thành Công Ở Việt Nam Cũng Như Ở Nước Ngoài / 2023

Ở thời điểm đó, ban lãnh đạo Viettel chấp thuận đầu tư vào Campuchia với số vốn 1 triệu USD với riêng 446.000 USD đã là thiết bị. Quyết định này được đưa ra sau khi Viettel chi 98.000 USD nghiên cứu thị trường của quốc gia láng giềng.

Với 663.000 USD tiền mặt, Viettel đã kéo cáp thành công từ An Giang về thủ đô Phnom Penh. Từ tháng 7 đến 10-2006, tuyến cáp hoàn thành và dịch vụ VoIP mang lại doanh thu chỉ sau 3 tháng. Số tiền 81.000 USD thu được từ VoIP tiếp tục được đầu tư để “nuôi” mảng Internet và di động sau này.

Tại Campuchia, Viettel thực hiện chiến lược “hạ tầng đi trước, kinh doanh theo sau” và “lấy nông thôn vây thành thị” (từng thành công vang dội ở Việt Nam) và sau này cũng áp dụng thành công ở nhiều thị trường quốc tế.

Năm 2009, sau 3 năm có mặt tại Campuchia, Viettel bắt đầu kinh doanh dịch vụ di động với cái tên Metfone. Metfone tăng trưởng siêu tốc dù mới bắt đầu kinh doanh nhờ vào việc phủ sóng toàn bộ 25 tỉnh thành.

Chỉ sau 2 năm, Metfone vươn lên giữ vị trí số 1 về thị phần. Đó là một quá trình còn thần tốc hơn cả việc vươn lên vị trí số 1 ở Việt Nam, khi Viettel phải mất 4 năm mới làm được điều đó.

Từ thành công ấy, Viettel đầu tư sang nước bạn Lào. Ở Lào, Viettel đã giúp bạn gây dựng lại một doanh nghiệp của Nhà nước vốn đang gặp nhiều khó khăn cả về vốn và chiến lược phát triển. Unitel tạo công ăn việc làm cho gần 2.000 cán bộ nhân viên có mức thu nhập trung bình khoảng 2,5 triệu LAK/người/tháng và vài nghìn cộng tác viên.

Song song với đó, công ty cũng hỗ trợ triển khai hệ thống cầu truyền hình giao ban xa cho Bộ Quốc phòng Lào; hỗ trợ triển khai miễn phí dịch vụ Internet cho hơn 600 trường học và cơ sở giáo dục…

Ông Bee Mua, Phó tổng giám đốc Unitel chia sẻ: “Sự phát triển của Unitel trong 2 năm đầu tiên kể từ lúc mở mạng cứ như một giấc mơ. Chỉ trong 2 năm từ khi khai trương, Unitel đã vươn lên vị trí hãng viễn thông số 1 của Lào, cả về mạng lưới, thuê bao, doanh thu, nộp thuế…”.

Tại hai quốc gia láng giềng, Viettel đã đầu tư nghiêm túc, bền vững, có trách nhiệm với nhân dân, Chính phủ và đất nước bạn, góp phần củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Ðông Dương.

“Chúng tôi đi ra nước ngoài cùng với tâm niệm mình không chỉ là đại diện của Viettel mà là đại diện của Việt Nam”, ông Nguyễn Cao Lợi, Phó tổng giám đốc Viettel Global, một trong những người Viettel đầu tiên đến Campuchia cho biết.

Những kỳ tích của viễn thông thế giới

Năm 2010, trận động đất tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại, cướp đi mạng sống của hơn 300.000 người Haiti xảy ra. Thủ đô Port-au-Prince gần như bị san phẳng, hơn 2 triệu người lâm vào cảnh không nhà. Thảm họa xảy ra chỉ 3 ngày trước khi Viettel sang quốc gia châu Mỹ này ký hợp đồng thành lập liên doanh về viễn thông.

Khó có thể tin là Viettel sẽ quay lại và thực hiện cam kết đầu tư bởi 90% các công trình lớn của Haiti bị phá hủy hoàn toàn hoặc hư hỏng rất nặng. Đây là chưa kể đến việc sau đó, bệnh dịch tả khủng khiếp, lây lan nhanh đã cướp đi mạng sống của 5.000 người Haiti.

Nhưng bất chấp tất cả những khó khăn về khoảng cách địa lý, công nghệ, cơ sở hạ tầng và thậm chí là dịch bệnh, những người Việt Nam và Haiti tại liên doanh Natcom không hề chùn bước.

Chỉ sau hơn 1 năm chính thức đầu tư, ngày 7-9-2011, Natcom đã chính thức khai trương mạng viễn thông, với cơ sở hạ tầng về mạng di động đứng số 1 Haiti. Natcom đã nhanh chóng có 250.000 thuê bao di động chỉ sau 1 tháng cung cấp thử nghiệm.

Tiếp tục dấn thân vào các quốc gia nghèo nhất, Viettel đến Mozambique. Movitel hiện là nhà mạng số 1 tại Mozambique về hạ tầng mạng lưới, thị phần cũng như dịch vụ và sự sáng tạo, góp phần thay đổi diện mạo ngành viễn thông và thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia này.

Không phải vô cớ mà Movitel được mệnh danh là “Điều kỳ diệu của châu Phi” và vinh dự nhận tới 6 giải thưởng quốc tế uy tín.

Kể đến thị trường nghèo nhất Đông Nam Á, Đông Timor là một thị trường rất nhỏ (dân số 1,2 triệu), địa hình có 90% là đồi núi nên việc triển khai hạ tầng mạng lưới sẽ rất tốn kém, khó thi công. Bên cạnh đó, dù dân số ít nhưng mạng di động nào cũng phải đầu tư một hệ thống tổng đài và bộ máy hoàn chỉnh nên chi phí cho mỗi thuê bao sẽ rất cao.

Thế nhưng, chỉ sau 6 tháng khai trương, Telemor đã kinh doanh có lãi. Đây là điều rất khó tin bởi theo tính toán thông thường, một mạng viễn thông mới vào Đông Timor tồn tại được đã khó chứ chưa nói đến chuyện có lãi với thời gian siêu tốc như vậy.

Thần tốc hơn, ở thị trường Burundi, Viettel có lãi chỉ sau 1 tháng. Burundi là thị trường mà Viettel vươn lên vị trí số 1 nhanh nhất trong lịch sử, chỉ sau 7 tháng.

Cùng với việc trở thành công ty viễn thông lớn nhất, Lumitel cũng lập kỷ lục doanh thu bù chi phí hoạt động nhanh nhất, sau 2 tháng kể từ khi khai trương.

Bước ngoặt ở Peru và tương lai ở Myanmar

Việc Viettel tới Peru đã tạo ra dấu ấn đặc biệt khi chưa bao giờ có một công ty Việt Nam nào đầu tư mạng viễn thông ở quốc gia có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành với việc thử sức với một thị trường “không nghèo”. Khi Viettel xuất hiện, Peru đã có mật độ điện thoại di động đạt trên 100%.

Nhưng dù trình độ phát triển kinh tế cao hơn Việt Nam, mật độ điện thoại di động đã vượt ngưỡng 100%, 3G ở Peru vẫn chỉ tập trung phủ sóng ở thành phố lớn. 3G vẫn “trắng sóng” ở nông thôn và ở một số vùng núi cao thậm chí chưa có 2G.

Đó chính là cơ hội cho Viettel. Tại Peru, Bitel trở thành mạng di động đầu tiên phủ sóng 3G toàn quốc khi khai trương và là mạng di động 3G Only duy nhất của Viettel vào thời điểm đó (năm 2014).

Ngoài mạng 3G Only, Bitel là thương hiệu viễn thông duy nhất có hệ thống bán hàng riêng (cả SIM và thiết bị đầu cuối) phủ tới tận huyện, xã ở khu vực nông thôn. Ngoài ra, Bitel cũng là nhà mạng có nhiều dịch vụ gia tăng độc đáo so với các đối thủ…

Trong 3 năm liên tiếp (2015-2017), Bitel là công ty có tốc độ tăng trưởng thuê bao nhanh nhất Peru. Đây cũng là nguyên nhân giúp cho tốc độ tăng trưởng thuê bao của toàn Peru giai đoạn 2014 – 2018 lên tới 30%, trong khi con số này tại các nước trong khu vực chỉ là 6%. Chỉ sau 2 năm, Bitel đã kinh doanh có lãi trong khi mạng di động khác vào Peru đã 10 năm vẫn lỗ.

Nếu như cách đây 13 năm, Viettel chỉ có 1 triệu USD khi sang Campuchia, và giờ Metfone có hơn 5,1 triệu thuê bao sau 10 năm, thì đầu tư sang Myanmar, Viettel đã thực hiện dự án với tổng vốn đầu tư 1,5 tỷ USD, và chỉ mất 8 tháng để đạt 5,2 triệu thuê bao.

Mytel đạt tốc độ tăng trưởng mà hiếm mạng viễn thông nào trên thế giới có được và là tốc độ tăng trưởng kỷ lục trong số 11 thị trường viễn thông mà Viettel đang kinh doanh (bao gồm cả Việt Nam). Myanmar dự kiến sẽ là động lực tăng trưởng quan trọng của Viettel ở nước ngoài trong năm 2019 và những năm tiếp theo.

Trong gần 30 năm lịch sử, Viettel đã chứng minh được năng lực thực sự khi liên tục làm bùng nổ dịch vụ viễn thông di động ở nhiều quốc gia trên thế giới, có hơn 100 triệu khách hàng, trở thành 1 trong 15 doanh nghiệp viễn thông lớn nhất thế giới về thuê bao.

Chia sẻ về câu chuyện đầu tư viễn thông ra nước ngoài, lãnh đạo của Viettel cho biết, trong khi nhiều người nghĩ rằng, viễn thông là xa xỉ thì Viettel lại nghĩ rằng, viễn thông là thứ hàng hóa thiết yếu, như cơm ăn, nước uống hằng ngày, do đó bằng mọi cách phải phổ cập dịch vụ, mang cơ hội kết nối đến cho bất kỳ ai.

Trong khi nhiều người nghĩ rằng công nghệ càng cao thì giá càng đắt thì Viettel lại nghĩ rằng, công nghệ càng cao thì giá càng rẻ. Nếu như Apple đưa chiếc iPhone giá hàng ngàn USD tới cho 10% người giầu nhất thì Viettel sẽ mang chiếc smartphone đến cho 90% số người còn lại… Đó cũng là một bí quyết giúp Viettel thành công ở Việt Nam cũng như khi tiến ra nước ngoài.

theo Quân đội Nhân Dân

Làm Thế Nào Để Mặc Đẹp Ở Việt Nam? / 2023

Nhiều người có thể nghĩ rằng giày sneaker không phải là item thích hợp để diện trong mùa hè vì dễ gây nóng bức, bí chân nhưng sự thật đã chứng minh điều ngược lại. Ngay cả khi nhiệt độ ngoại trời lên tới 40 độ C thì sneaker vẫn là kiểu giày được các bạn trẻ ưu ái hơn cả vì nhiều lý do. Thực ra, việc đi giày sneaker trong mùa hè không kinh khủng như nhiều người vẫn tưởng tượng và nhiều bạn trẻ còn thú nhận rằng một khi đã đi quen sneaker thì khó có thể chuyển sang các loại giày khác vì cảm giác thoải mái, êm chân tuyệt đối. Ngoài ra, giày sneaker còn là người bạn tuyệt vời giúp các cô nàng che chắn, tránh nắng cho bàn chân của mình.

Bên cạnh những ưu điểm đó, có một điều không thể chối cãi là giày sneaker mang đến cho bạn dáng vẻ vô cùng khỏe khoắn, hiện đại và thời thượng. Vào những ngày hè oi bức khi mà mới chỉ nghĩ đến việc ăn bận cầu kỳ đã thấy ngại thì những combo hết sức đơn giản như T-shirt + jeans + sneaker hay váy liền + sneaker nghiễm nhiên trở thành lựa chọn “số dzách” của các bạn trẻ. Đây tuy là những công thức mix đồ rất đỗi cơ bản nhưng lại luôn đẹp mọi lúc, mọi nơi và đặc biệt là mang lại cảm giác vô cùng thoải mái, dễ chịu trong mùa hè. Ngoài quần jeans, váy liền, giày sneaker còn có thể kết hợp linh động với quần shorts, overall, quần culottes, chân váy, v.v… và đều tạo nên những set đồ hè đơn giản mà “hút mắt”.

Trẻ trung mà vẫn chỉn chu với áo sơmi, skinny jeans và sneaker trắng. Một chút sexy, một chút nữ tính, một chút bụi bặm với áo khoét hai bên, jeans rách và sneaker. T-shirt, overall và giày sneaker dễ mặc, dễ đẹp và luôn tràn đầy sự trẻ trung, năng động. Combo T-shirt, quần shorts và sneaker đúng chuẩn cô nàng sporty. Khỏe khoắn mà vẫn không kém phần điệu đà, nữ tính với sneaker, shorts và áo yếm. Từ những chiếc váy liền midi… … cho đến những chiếc váy ngắn ngang đùi đều vô cùng hợp ý với giày sneaker. T-shirt kết hợp với chân váy và sneaker cũng là combo không thể bỏ qua dành cho các cô nàng năng động.

Trong mắt nhiều cô nàng, mùa hè chính là mùa của những chiếc crop top và quả thực, khó kiểu áo nào có thể đánh bật crop top về khoản thoáng mát, thoải mái mà vẫn trendy và không kém phần sexy. Không chỉ sở hữu nhiều ưu điểm “dễ yêu” mà crop top còn có thể chiều lòng nhiều phong cách. Nếu bạn yêu thích sự năng động, khỏe khoắn thì crop top và quần jeans hay overall là gợi ý hợp lý hơn cả. Trong khi đó, crop top kết hợp với chân váy hay shorts cạp cao lại là câu trả lời dành cho những cô nàng nữ tính, yểu điệu.

Giày sneaker tuy có vị thế áp đảo như vậy nhưng hẳn là đôi khi, bạn vẫn muốn diện một kiểu giày dép nào đó nhẹ nhàng và thanh thoát hơn. Trong trường hợp này thì sandal và dép lê là những ứng cử viên sáng giá hơn cả. Với sandal, bạn có vô số lựa chọn về kiểu dáng như sandal bản to, sandal đế thô, sandal chiến binh, sandal buộc dây, v.v… Trong khi đó, kiểu dép lê “hot” nhất hiện nay chính là mẫu dép lê có phần quai to bản và che gần kín bàn chân. Cả sandal và dép lê đều có thể “xúng xính” vô cùng ăn ý với nhiều set đồ hè đơn cử như áo đủ mọi kiểu dáng kết hợp với quần lửng, quần shorts hay váy liền, v.v… Bằng việc chọn sandal và dép lê sao cho phù hợp, bạn có thể tạo ra những set đồ rất đa dạng về phong cách.

Nói đến mùa hè, chúng ta không thể quên những chiếc mũ và riêng trong mùa hè này thì mũ tai bèo đang là item “hot” hơn cả. Tuy sở hữu dáng vẻ đầy casual và thậm chí là mộc mạc nhưng mũ tai bèo lại có khả năng “cá tính hóa” nhiều set đồ hè, mang đến cho bạn diện mạo năng động, trẻ trung và trên hết là cực kỳ hay ho, thú vị. Mũ tai bèo cũng khá dễ tính khi có thể “kết bạn” với nhiều bộ cánh, từ T-shirt và quần jeans cho đến những chiếc váy điệu đà hơn miễn sao đó là những trang phục đơn giản, trẻ trung.

Chiếc túi đan với hình dáng gợi nhớ đến chiếc làn đi chợ của các bà, các mẹ ngày xưa đang là “tân binh” được để ý nhất trong vô vàn các loại túi. Những chiếc túi với kiểu dáng tối giản được tạo nên từ kỹ thuật đan lát này chính là bí quyết thú vị giúp bạn tạo vẻ tươi mới, trendy mà vẫn đầy nữ tính, nhẹ nhàng cho set đồ của mình hè này.

Phát Triển Lực Lượng Sản Xuất Ở Việt Nam / 2023

Thực trạng ứng dụng những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại vào phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam

Khoa học – công nghệ là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam. Những thành tựu của khoa học, công nghệ đã góp phần đáng kể trong việc phát triển tư liệu sản xuất, trước hết là cải biến những công cụ lao động cả trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp.

Trong thời gian qua, với xu thế toàn cầu hóa, sự chuyển giao và hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ đã khiến nền kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ. Những công cụ lao động giản đơn mang tính chất tiểu thủ công nghiệp đã được thay thế bằng những dây chuyền máy móc thiết bị tối tân, hiện đại. Sức lao động của con người được giải phóng, lao động chân tay dần được thay thế bởi lao động trí óc, lao động giản đơn dần được thay thế bằng sự chuyên môn hóa ngày càng cao. Những sự thay đổi lớn lao của công cụ sản xuất đã làm cho năng suất lao động tăng vượt bậc, khối lượng sản phẩm làm ra ngày càng nhiều và có chất lượng cao. Cũng nhờ sự phát triển của công cụ sản xuất, nền kinh tế nước ta đang có sự chuyển dịch lớn mạnh về cơ cấu kinh tế. Trong những năm gần đây, tỉ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ có xu hướng tăng mạnh hơn so với các ngành nông nghiệp. Từ một nước thuần nông, Việt Nam đã xây dựng được nhiều nhà máy, xí nghiệp có những dây chuyền công nghệ tiến tiến; nhiều khu chế xuất công nghệ cao. Tuy nhiên, so với nhiều quốc gia khác trên khu vực và trên thế giới, là một nước đi sau nên nhìn chung nền sản xuất công nghiệp của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, những ngành công nghiệp chế tạo chưa thực sự phát triển, mới phát triển những ngành công nghiệp lắp ráp theo dây chuyền công nghệ của nước ngoài, mức độ hiện đại hóa trong các ngành công nghiệp chưa đồng đều giữa các ngành và giữa các địa phương trong cả nước, tính cạnh tranh của các mặt hàng sản xuất công nghiệp nhìn chung còn thấp nên giá thành không cao, nhất là những ngành vốn là thế mạnh của nước ta như dệt may, da giày, khoáng sản…

Theo Báo cáo chỉ số đổi mới toàn cầu năm 2014 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), chỉ số đổi mới công nghệ của Việt Nam đứng thứ 71/143 nước, đứng thứ 4 trong số các nước thuộc khối ASEAN. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất còn nhiều hạn chế. Trình độ cơ khí hóa, tự động hóa và tin học hóa của nhiều ngành kinh tế nhìn chung còn nhiều hạn chế. Theo điều tra các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, chế tạo năm 2015, khoảng 57% doanh nghiệp có công nghệ thấp, 31% doanh nghiệp có công nghệ trung bình, 12% doanh nghiệp có công nghệ cao. Trong khi các nước trong khu vực đều có tỷ trọng đầu tư cao cho khoa học, công nghệ trong sản xuất thì mức đầu tư của Việt Nam còn khá khiêm tốn: từ năm 2006 – 2016, tỷ lệ đầu tư cho khoa học, công nghệ mới chỉ chiếm khoảng 0,6% GDP. Trong vòng 10 năm, tỷ lệ này chỉ tăng từ 0,48% GDP lên 0,51% GDP. Bởi vậy, qua hơn 30 năm đổi mới, nền công nghiệp Việt Nam vẫn chỉ dừng lại ở trình độ gia công.

Thực trạng kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam

Ngoài việc ứng dụng những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại vào sản xuất, cải tiến công cụ lao động và mở rộng đối tượng lao động; các phương tiện lao động của nước ta cũng có những bước phát triển đáng kể. Điều đó được thể hiện rõ nét nhất qua sự phát triển của kết cấu hạ tầng phục vụ cho sản xuất. Kết cấu hạ tầng chính là cái “cốt vật chất” của các lĩnh vực kinh tế – xã hội ở mỗi quốc gia. Trong lĩnh vực sản xuất vật chất, kết cấu hạ tầng không chỉ giúp cho việc lưu thông hàng hóa, hiện đại hóa quá trình sản xuất mà còn là động lực thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển.

Hiện nay, ở nước ta đã hình thành được hầu hết các trục đường bộ từ Bắc đến Nam, từ Đông sang Tây, không chỉ nối liền các vùng kinh tế trong cả nước mà còn đảm bảo thông thương với các nước láng giềng. Đặc biệt, trong những năm gần đây, nhiều tuyến đường cao tốc từ các tỉnh, thành phố trung tâm đã được xây dựng như Hà Nội – Lào Cai, Hà Nội – Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh – Vũng Tàu, Đà Nẵng – Dung Quất… làm giảm đáng kể thời gian vận chuyển, lưu thông hàng hóa từ 30-50%. Hơn nữa, nhiều cây cầu đã được xây dựng như cầu Cần Thơ, cầu Nhật Tân, cầu Thanh Trì… góp phần quan trọng trong việc hiện đại hóa nền kinh tế đất nước.

Về giao thông đường biển, nước ta có 49 cảng biển, 166 bến cảng, 350 cầu cảng, năng lực thông quan khoảng 350-370 triệu tấn/năm. Đặc biệt, quá trình vận chuyển, bốc dỡ hàng hóa cũng đã được hiện đại hóa đáng kể bằng việc thay thế sức lao động của con người thành những máy móc, cẩu nâng tự động hóa. Điều đó góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của các ngành kinh tế biển ở nước ta.

Về giao thông đường không, Việt Nam đang đưa vào khai thác 21 sân bay, trong đó có 10 cảng hàng không quốc tế, số lượng hành khách tăng mạnh từ 4,9 triệu khách năm 2000 lên đến 56,8 triệu khách năm 2014. Như vậy, chỉ chưa đến 15 năm, số lượng hành khách đã tăng lên hơn 10 lần. Giao thông hàng không cũng góp phần quan trọng trong việc vận chuyển, lưu thông hàng hóa giữa các vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước và với các nước khác trên thế giới.

Về giao thông đường sắt, mạng lưới đường sắt của nước ta có tổng chiều dài là 3.143 km, trong đó có 2.531 km tuyến chính, 612 km đường nhánh và đường ga. Giao thông đường sắt nước ta góp phần quan trọng trong việc vận chuyển hành khách và hàng hóa từ thủ độ Hà Nội đến các vùng trong cả nước.

Như vậy, hạ tầng giao thông của nước ta không chỉ đảm bảo sự lưu thông giữa các vùng kinh tế mà còn là đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất phát triển và hội nhập quốc tế. Ngoài hạ tầng giao thông, hạ tầng thông tin, điện, nước… cũng có những bước tiến đáng kể, đảm bảo nhu cầu thông thông liên lạc, duy trì và phát triển sản xuất.

Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn, nhưng việc xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất ở nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém như hệ thống kết cấu hạ tầng thiếu tính đồng bộ và mất cân đối đáng kể giữa các vùng miền. Hệ thống kết cấu hạ tầng ở các thành phố lớn như thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh khá hiện đại nhưng ở các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo còn lạc hậu, yếu kém, chất lượng hạn chế; công tác quản lý, khai thác và sử dụng dịch vụ hạ tầng còn nhiều bất cập. Vì vậy, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ được Đảng ta xác định là một trong những bước đột phá chiến lược trong việc phát triển kinh tế – xã hội nói chung và phát triển lực lượng sản xuất hiện đại nói riêng.

Thực trạng đội ngũ người lao động trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam

Tính đến năm 2015, Việt Nam có dân số trên 93 triệu người, đứng thứ 13 thế giới, thứ 7 châu Á và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á. Dân số phân bố không đều giữa các vùng miền trong cả nước và có sự khác biệt lớn về trình độ theo vùng. Trong cơ cấu dân số Việt Nam, cư dân nông thôn chiếm khoảng 68% dân số. Trong số trên 93 triệu người, cả nước có 69,3 triệu người từ 15 tuổi trở lên, trong đó có 53,7 triệu người tham gia vào lực lượng lao động, chiếm 77,7% dân số, trong đó 70,2% tập trung ở nông thôn. Hàng năm ở nước ta, trung bình có khoảng hơn 1 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động.

Hiện nay, Việt Nam là nước có cơ cấu dân số trẻ, đang ở thời kỳ dân số vàng. Trong số 53,7 triệu lao động có đến 50,2% số người có độ tuổi từ 15 đến 39. Với nguồn lao động trẻ dồi dào, Việt Nam đang có lợi thế lớn để phát triển lực lượng sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền sản xuất hiện đại, thúc đẩy nền kinh tế của đất nước. Nguồn lao động trẻ sẽ gặp nhiều thuận lợi trong việc tiếp thu những tiến bộ của khoa học, công nghệ vào sản xuất; thích ứng và bắt nhịp nhanh với quá trình sản xuất đòi hỏi công nghệ cao, áp lực lớn và thích ứng được việc thay đổi nghề nghiệp, điều kiện làm việc theo yêu cầu của quá trình sản xuất.

Theo số liệu thống kê năm 2015, trong tổng số 53,7 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động của nước ta, có 9,99 triệu người đã qua đào tạo, chiếm 18,6% trong tổng số lao động trên cả nước, trong đó ở thành thị là 33,7%, gấp 3 lần tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 11,2%, phân theo giới tính tỷ lệ này là 20,3% đối với nam và 15,4% đối với nữ . Trong những năm gần đây, tỉ lệ lao động có trình độ đại học của lực lượng lao động trực tiếp không ngừng tăng lên. Năm 2012, trung bình cả nước có 4,7%, năm 2013 là 5,8%, đến năm 2014, tỷ lệ này là 6,2%. Sự tăng lên không ngừng của đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn đã bước đầu đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nền sản xuất hiện đại trong việc ứng dụng những thành tựu của khoa học, công nghệ vào việc cải tạo nền sản xuất theo hướng hiện đại.

Một trong những đặc điểm nổi bật của con người Việt Nam trong lịch sử là sự cần cù, linh hoạt, sáng tạo. Đó cũng chính là ưu điểm của người lao động nước ta hiện nay. Nhờ đó, người lao động có năng lực trong việc sản xuất những mặt hàng đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ, có độ tinh xảo cao. Cũng với tính cần cù, chăm chỉ, ngày nay số lượng lao động Việt Nam làm việc trong các ngành công nghiệp lắp ráp công nghệ cao cũng chiếm tỉ lệ khá lớn. Do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong những năm gần đây, ở Việt Nam có rất nhiều các công ty, nhà máy lớn được xây dựng do các tập đoàn kinh tế lớn bỏ vốn như Sam Sung, Toyota, Deawoo… Các chủ đầu tư của những công ty đó đã nhìn thấy ưu điểm nổi bật của nguồn lao động nước ta là sự cần cù, chăm chỉ, khéo léo. Nhờ đó, cơ cấu lao động của Việt Nam đã có sự chuyển biến theo hướng tích cực, giảm dần tỉ lệ lao động nông nghiệp, tăng lên đáng kể tỉ lệ lao động công nghiệp, góp phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm cho lao động ở nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động.

Tuy nhiên, do nền kinh tế phát triển của Việt Nam chưa thực sự phát triển nên việc đầu tư cho công tác y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân nhìn chung còn thấp. Hiện nay, chi tiêu của Chính phủ còn khá thấp so với nhu cầu khám chữa bệnh của người lao động: “Chi tiêu của chính phủ cho công tác chỉ tương đương với 2,8% GDP. Hơn 50% chi tiêu cho y tế chính là chi tiêu từ túi tiền của bệnh nhân. Chi tiêu công cho y tế chiếm khoảng 8,7% chi tiêu công ở Việt Nam so với mức 14,1% ở Thái Lan và 9,9% ở Trung Quốc”. Mức đầu tư cho công tác y tế còn thấp cũng đã ảnh hưởng đáng kể đến việc khám chữa bệnh và công tác bảo hiểm y tế cho người lao động. Ngoài ra, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động cũng đang là một trong những yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe, thể lực của người lao động cả trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp ở nước ta hiện nay.

Một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu của sự phát triển lực lượng sản xuất hiện đại là tỉ lệ những người lao động đã qua đào tạo, lao động tay có tay nghề, có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm đa số nhưng ở Việt Nam hiện nay, mặc dù đã tăng lên đáng kể nhưng so với nhu cầu hiện tại của nền sản xuất, tỷ lệ đó còn khá thấp. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong 12 nước ở châu Á được tham gia xếp hạng; thiếu nhiều chuyên gia trình độ cao, thiếu công nhân lành nghề; chỉ số Kinh tế Tri thức ( KEI) của nước ta còn thấp, chỉ đạt 3,02 điểm, xếp thứ 102/133 quốc gia được phân loại; lao động nông thôn chủ yếu chưa được đào tạo nghề, năng suất lao động thấp. Đây là những thách thức lớn đối với nước ta trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức.

Sau hơn 30 năm đổi mới, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi đáng kể như trình độ của tư liệu sản xuất, nhất là công cụ lao động được cải tiến; khoa học – công nghệ được ứng dụng nhiều vào sản xuất; trình độ, kỹ năng của người lao động không ngừng tăng lên nhưng so với yêu cầu của nền sản xuất hiện đại, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Do đó, cần có những giải pháp thiết thực, hiệu quả nhằm phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Tổng cục Thống kê (2015), Niên giám thống kê năm 2014, Nxb. Thống kê, Hà Nội.

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê (2016), Báo cáo điều tra Lao động và Việc làm năm 2015, Hà Nội.

Những Bí Quyết Làm Giàu Từ Chăn Nuôi Ở Nông Thôn / 2023

Trong thời buổi Internet phát triển rộng rãi hiện nay, kinh doanh ở khu vực nông thôn phải sử dụng các ý tưởng hiện đại chẳng hạn như nông nghiệp kết hợp với thương mại điện tử để có nhiều cơ hội tốt hơn.

Trong khởi nghiệp ở nông thôn, phổ biến nhất là các dự án khởi nghiệp chung ở nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi cũng như một số dự án chế biến nông sản. Tất nhiên, có những dự án khác phù hợp với khu vực nông thôn, chẳng hạn như trang trại hay các dự án đang phổ biến trong những năm gần đây.

Chăn nuôi có lợi nhuận cao không? Làm giàu từ chăn nuôi ở nông thôn có lâu dài không? Phát triển chăn nuôi ở nông thôn cần những yếu tố gì? Kinh doanh chăn nuôi ở nông thôn bất cứ ai cũng tự đặt cho họ những câu hỏi tương tự như thế.

Với sự cải thiện liên tục về mức sống của người dân, nhu cầu thịt bò và thịt cừu cũng tăng lên. Cùng với việc cải thiện điều kiện sống ở nông thôn và phát triển cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp việc chăn nuôi gia súc và chăn nuôi cừu không còn xuất hiện ở các hộ gia đình.

Chăn nuôi gia súc và cừu hiện nay chủ yếu là một trang trại quy mô lớn, chuyên biệt, nhưng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nên việc sản xuất gia súc và cừu trong một thời gian ngắn không thể đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước.

Đồng thời, thịt bò có mức độ nhân giống thấp, vì vậy chúng cho thấy một số lượng lớn trang trại nhưng năng suất thấp và chất lượng kém.

Vì thế, để cải thiện và làm giàu trong ngành chăn nuôi cần đang đẩy mạnh liên kết để tạo thành chuỗi giá trị chăn nuôi.

Đồng thời, gắn liên kết sản xuất, tiêu thụ giữa các hộ chăn nuôi thông qua mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác với doanh nghiệp có tiềm năng theo phương châm “mua tận gốc, bán tận ngọn” do doanh nghiệp cung ứng đầu vào cũng như bao tiêu đầu ra, góp phần cắt giảm chi phí trung gian, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường để duy trì ổn định và phát triển chăn nuôi bền vững.

Hiện tại, nhiệm vụ chính của chăn nuôi gia súc và cừu ở Việt Nam là là phát triển các trang trại quy mô lớn và cải thiện sản lượng cùng chất lượng thịt bò và thịt cừu để sản xuất và xuất khẩu.

Các dự án chăn nuôi gia cầm phổ biến bao gồm chăn nuôi gà, nuôi vịt, nuôi chim bồ câu, nuôi gà chạy bộ, nuôi gà lông trắng, nuôi gà công nghiệp, nuôi gà mái đẻ, vân vân.

Những con gà được nuôi ở nông thôn có chất lượng và hương vị thơm ngon được rất nhiều người tiêu dùng ở cả nông thôn và thành thị ưa chuộng.

Tuy nhiên, do tốc độ tăng trưởng chậm (6-10 tháng trước khi lớn lên) số lượng người dân nuôi gia cầm tự do lẻ tẻ không nhiều, nên lợi ích kinh tế chung của nông dân không cao, khó tăng thu nhập.

Mở trang trại chăn nuôi gà là một chuyện, nhưng khởi nghiệp thật sự lại là một chuyện hoàn toàn khác. Bạn không chỉ sẽ trở thành một người nông dân chăn nuôi gà mà còn là một nhà kinh doanh, tùy thuộc vào thị trường mà bạn nhắm đến và phân khúc mà bạn muốn khai thác.

Trong ngành công nghiệp chăn nuôi gà, có hai hướng chính: nuôi lấy trứng (gà được nuôi và nhân giống để đẻ trứng) và nuôi lấy thịt (gà được nuôi và nhân giống để giết thịt). Dù là hình thức nào đi chăng nữa, bạn cũng phải đưa ra những quyết định về tài chính và chịu trách nhiệm về sự quản lý của mình sao cho trang trại mang về thật nhiều lợi nhuận.

Các dự án nuôi trồng thủy sản phổ biến bao gồm: nuôi tôm, nuôi cá nước ngọt, nuôi cá nước mặn, nuôi cua, nuôi ếch, nuôi bào ngư, nuôi hải sâm, vân vân.

Trong những năm gần đây, sản xuất nuôi trồng thủy sản quốc gia đã duy trì đà phát triển tốt, quy mô chăn nuôi được mở rộng hơn nữa và tiến bộ mới đã được điều chỉnh cơ cấu. Các khu vực nuôi trồng thủy sản chiếm ưu thế và các loài thủy sản hàng đầu ở các tỉnh thủy sản quan trọng đang dần hình thành.

Hoạt động kinh tế của nuôi trồng thủy sản về cơ bản ổn định, giá các sản phẩm nuôi trồng thủy sản tăng và lợi ích so sánh được cải thiện hơn nữa, điều này có lợi cho việc điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp và tăng thu nhập của nông dân.

Nhu cầu thủy sản tăng cao đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của ngành nuôi trồng thủy sản, tạo cơ hội cho nhiều nông dân nuôi trồng thủy sản.

Theo tính toán của người dân nuôi trồng thủy sản- chị Loan, bình quân mỗi vụ thu hoạch, chị bán được hàng chục tấn sản phẩm thủy sản. Trừ chi phí con giống, trả tiền thuê lao động, chị thu lợi trên 1 tỷ đồng/năm. Ngoài ra, hoạt động kinh doanh của vựa tôm cũng đem về doanh thu trên 1 tỷ đồng.

Do chịu khó, ham học hỏi nên thời gian qua, việc mua bán thủy sản của chị Loan đều gặp thuận lợi. Doanh thu ngày càng tăng cao và nhờ sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương, chị còn kinh doanh thêm các loại thuỷ sản khác và cũng đã được “nâng cấp” thành Công ty TNHH Phạm Thị Loan.

“Tôm, cua bây giờ khó nuôi hơn lúc trước nên tới đây tôi tập trung lo cho sò huyết hơn. Trước đây, giá sò huyết chỉ ở mức từ 50.000-60.000 đồng/kg đã đem về lợi nhuận cao rồi. Bây giờ, giá lên đến 80.000 đồng/kg, dự tính đợt thu hoạch tới tôi sẽ thu về vài tỷ. Tôi cũng sẽ tìm cách tiếp cận với nguồn tiêu thụ sò huyết trực tiếp từ nước ngoài tránh qua trung gian như hiện nay”. Chị Loan một người kinh doanh nuôi trồng thủy sản thành công cho biết.

Các dự án chăn nuôi đặc biệt phổ biến bao gồm: nuôi chuột, nuôi rắn, nuôi cá nhỏ, nuôi chó thịt, nuôi nhím, nuôi lợn rừng, nuôi hươu, vân vân.

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi đặc biệt đã trở thành một đội quân chăn nuôi mới nổi trong nền nông nghiệp ở Việt Nam. Ngành chăn nuôi đặc biệt khác với các động vật nuôi thông thường là hình thành quy mô lớn và rộng rãi, khác với những ngành chăn nuôi phổ biến thông thường.

Ngành công nghiệp chăm sóc đặc biệt có thể được chia thành những loại khác nhau tùy thuộc vào sử dụng kinh tế của nó. Hiện tại nội dung đa dạng và triển vọng thị trường rất cao nên khuyến khích doanh nhân tham gia vào ngành này.

Nếu như bạn đang có ý tưởng kinh doanh làm giàu, bạn ở nông thôn và chán với cảnh làm ruộng vất vả mà quanh năm mà vẫn nghèo, bạn không cam chịu số phận thì bạn nên thử sức tham gia vào ngành chăn nuôi. Từ mơ ước làm giàu bạn có thể đi đến nhiều nơi để tìm hiểu, học tập kinh nghiệm để quay về quê hương xây dựng một trang trại chăn nuôi có quy mô. Biến ước mơ làm giàu thành sự thật.

Điều đặc biệt cần lưu ý và quan tâm trong quá trình chăn nuôi đó là cách phòng bệnh cho đàn gia súc, gia cầm, tiêm phòng đầy đủ và phòng ngừa bệnh cho chúng. Ngoài ra bạn cũng phải chú ý đến khí hậu nơi bạn đang sống có thích nghi với loại hình chăn nuôi mà bạn lựa chọn hay không.

Nếu là người có ý chí quyết tâm hãy mạnh dạn, quả quyết chuyển đổi vật nuôi để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Thành công là khi chúng ta biết nhìn xa trông rộng và thực tế bắt tay vào thực hiện nó.

Nguồn: bytuong